Đề án kinh tế thơng mại
Ngày nay, xu thế cạnh tranh về chất lợng sản phẩm ngày càng tăng vì thế các
DN luôn quan tâm đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, cải tiến quản
lý và phơng thức sản xuất kinh doanh. Nh vậy là cạnh tranh đã khuyến khích áp
dụng có hiệu quả các nguồn lực trong phạm vi DN để giảm giá thành, giảm giá
bán, nâng cao chất lợng sản phẩm, bảo đảm hoạt động có hiệu quả, giành đợc u
thế trên thị trờng.
Trên thị trờng, các cuộc chạy đua giữa các DN diễn ra ngày càng gay gắt thì
ngời đợc lợi nhiều nhất chính là các khách hàng. Khi có cạnh tranh, các đối thủ
cạnh tranh do phải giành giật thị trờng và khách hàng nên luôn phải tìm cách để
nâng cao chất lợng sản phẩm và hạ giá bán sản phẩm. Khi đó ngời tiêu dùng có
quyền lựa chọn các sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất, giá thấp nhất. Do vậy cạnh
tranh thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
Cạnh tranh loại bỏ các DN có chi phí cao trong sản xuất, điều này buộc các
nhà sản xuất phải lựa chọn phơng án sản xuất có chi phí thấp nhất. Vì vậy, cạnh
tranh tạo ra sự đổi mới, mang lại sự tăng trởng kinh tế. Ngoài ra, cạnh tranh còn là
động lực phát triển cơ bản kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích của DN, lợi ích
của ngời tiêu dùng và lợi ích của xã hội. Nh vậy, cạnh tranh thúc đẩy sản xuất
phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ toàn những u điểm, mà nó còn có những
khuyết tật cố hữu mang tính đặc trng của cơ chế thị trờng. Cơ chế thị trờng bắt
buộc các DN phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Trong
quá trình cạnh tranh, các DN phải quan tâm trớc hết là lợi ích bản thân mình,
không chú ý đến các vấn đề xã hội. Từ đó xuất hiện những mâu thuẫn hết sức gay
gắt giữa các DN và sẽ kéo theo những vấn đề về xã hội nh nạn thất nghiệp, tiền
công rẻ mạt, môi trờng sinh thái bị huỷ hoại
Cạnh tranh sẽ một mặt thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển, mặt khác nó
cũng dẫn tới tình trạnh độc quyền trên thị trờng. Chính điều này cũng dẫn tới tình
trạng phân hóa ghê gớm, kẻ thắng ngời thua, đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà
nớc đảm bảo cho các DN có thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh.
1.3. Các hình thái của cạnh tranh.
Khi nhận dạng tính chất và mức độ biểu hiện của cạnh tranh trong các hình
thái thị trờng cho thấy tầm quan trọng của việc nhận dạng và xác định đợc các
tiêu chí phân loại hình thái thị trờng để đánh giá tính chất và mức độ biểu hiện
của cạnh tranh theo từng hình thái.
5
Đề án kinh tế thơng mại
- Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời sống kinh
tế, ngời ta phân chia thị trờng thành hai hình thái: cạnh tranh tự do và cạnh tranh
có điều tiết. Cạnh tranh tự do là hiện tợng không thể có trong thế giới hiện đại vì
KTTT hiện đại luôn có nhu cầu đợc điều tiết và Nhà nớc nào cũng có chính sách
kinh tế riêng và vì thế luôn tìm cách hớng các hoạt động kinh tế vào mục tiêu
kinh tế vĩ mô của mình.
- Căn cứ vào cơ cấu DN và mức độ tập trung trong một ngành, một lĩnh vực
kinh tế, ngời ta phân thị trờng thành các hình thái: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh
tranh không hoàn hảo mà biểu hiện cực đoan nhất của nó là độc quyền. Ngày nay,
trên thực tế, cũng không thể có cạnh tranh hoàn hảo vì năng lực thực tế, điều kiện
chủ quan và kể cả cơ may của các DN là không thể đồng nhất.
- Căn cứ vào mục đích, tính chất của phơng thức cạnh tranh, ngời ta phân
nhóm các hành vi cạnh tranh trên các hình thái thị trờng gồm hai loại: cạnh tranh
lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên vì đợc bảo hộ bởi các
nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh, tự do khế ớc, tự do lập hội và tự do giục dã
của lợi nhuận, nên thực trạng của thơng trờng luôn diễn ra theo hớng không lành
mạnh. Đây chính là một trong những tiền đề để pháp luật cạnh tranh ra đời.
1.4. Pháp luật về cạnh tranh.
Pháp luật về cạnh tranh là công cụ mạnh mẽ điều tiết thị trờng văn minh và
tiến bộ. Là lĩnh vực trụ cột của Luật kinh tế truyền thống, nó có khả năng:
- Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, trung thực, công bằng.
- Điều tiết cạnh tranh theo mức độ của thị trờng nội địa và quốc tế.
- Bảo vệ lợi ích của ngời sản xuất, tiêu dùng, Nhà nớc và xã hội.
- Tạo thế cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
- Tạo động lực phát triển kinh tế.
- Chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền, góp phần điều
tiết nền kinh tế theo chính sách kinh tế của Nhà nớc.
- Định hớng chuẩn mực, giữ gìn đạo đức và tập quán trong kinh doanh đã
đuợc thừa nhận.
Nh vậy có thể nói, pháp luật về cạnh tranh có độ bán kính điều chỉnh rất khác
nhau:
6
Đề án kinh tế thơng mại
- Điều chỉnh hoạt động cạnh tranh.
- Điều chỉnh quá trình đấu tranh chống các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh.
- Điều chỉnh vào đấu tranh chống độc quyền, hạn chế cạnh tranh.
Nhà nớc ban hành pháp luật về cạnh tranh nhằm đạt đợc mục tiêu hiệu quả
của nền kinh tế chính là biểu hiện vai trò điều tiết cần thiét của nền kinh tế quốc
dân.
2. Nội dung cơ bản về nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
2.1. Các phơng thức cạnh tranh của DN
Các yếu tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa
Khi nghiên cứu và đánh giá khả năng cạnh tranh của một ngành hàng, các
nhà kinh tế cho rằng phải xem xét khả năng cạnh tranh trên thơng trờng và phải
theo quan điểm phân tích cạnh tranh động. Nh vậy sẽ có khoảng 17 yếu tố tác
động đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thơng trờng nh sau:
Giá, chất lợng sản phẩm, mức độ chuyên môn hoá sản phẩm, năng lực nghiên
cứu và phát triển sản phẩm, năng lực nghiên cứu thị trờng, khả năng giao hàng và
giao đúng thời hạn, mạng lới phân phối, dịch vụ sau bán, liên kết đối với các đối
tác nớc ngoài, sự tin tởng của khách hàng, sự tin cậy của nhà cung cấp, tổ chức
sản xuất, kỹ năng của nhân viên, loại hình DN, sự hỗ trợ của chính phủ, năng lực
tài chính và các yếu tố khác.
Với hệ thống các chỉ tiêu nh đã nêu trên, việc tìm ra lời giải chung cho việc
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng là rất khó khăn và phức tạp. Tuy
nhiên, chỉ xem xét đến một số yếu tố quan trọng, các DN sẽ đặc biệt quan tâm
đến để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và của DN, từ đó có các ph-
ơng thức cạnh tranh sau:
Cạnh tranh bằng giá cả
Mặc dù, theo lý thuyết kinh tế, giá cả đợc hình thành bởi sự gặp gỡ của cung
và cầu, nhng DN hoàn toàn có thể định giá cho sản phẩm của mình tuỳ theo mục
đích kinh doanh cụ thể, chỉ cần mức giá đó bù đắp đợc chi phí sản xuất và phải có
lãi. Do vậy, DN có thể chọn giá cả làm công cụ cạnh tranh của mình. Trong hoạt
động thơng mại nói chung, để giành phần thắng trong cuộc chạy đua kinh tế thì
các DN thờng đa ra một mức giá thấp hơn giá của các đối thủ cạnh tranh nhằm lôi
7
Đề án kinh tế thơng mại
cuốn khách hàng, qua đó tiêu thụ nhiều hơn hàng hoá và dịch vụ. Các đối thủ
cũng hoàn toàn có thể phản ứng lại bằng cách hạ giá thấp hơn. Phơng thức cạnh
tranh này khi đã trở nên gay gắt thì nó sẽ biến thành cuộc chiến tranh về giá cả
giữa các DN.
Cạnh tranh bằng chất lợng
Khi thu nhập và đời sống của dân c ngày càng cao thì phơng thức cạnh tranh
bằng giá cả xem ra không có hiệu quả. Chất lợng của sản phẩm và dịch vụ sẽ là
mối quan tâm của khách hàng, nên nếu nh hàng hoá có chất lợng thấp thì dù có
bán giá rẻ cũng không thể tiêu thụ đợc. Để nâng cao khả năng cạnh tranh bằng
hàng hoá và dịch vụ, DN không còn cách nào khác là phải nâng cao chất lợng sản
phẩm và dịch vụ. Đặc biệt, ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và
kỹ thuật cũng nh sự bành trớng của các DN đa quốc gia, thì vấn đề cạnh tranh
bằng chất lợng càng trở nên gay gắt khi các sản phẩm đa ra thị trờng đều đảm bảo
chất lợng cao. Chính vì vậy, đối với các quốc gia có trình độ sản xuất còn nhiều
hạn chế sẽ rất khó có khả năng cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
Cạnh tranh bằng dịch vụ
Đây là phơng thức cạnh tranh hết sức phổ biến trên thị trờng quốc tế. Ngoài
phơng thức cạnh tranh bằng giá cả, cạnh tranh bằng chất lợng thì trên thực tế các
DN còn cạnh tranh với nhau bằng dịch vụ. Đó có thể là dịch vụ bán hàng tận nơi
cho khách, dịch vụ sau khi bán, gồm các công việc nh bảo hành, bảo dỡng, lắp
đặt, chạy thử, Các phơng thức dịch vụ ngày càng đợc sử dụng rộng rãi và đa
dạng hơn, nhất là khi lĩnh vực dịch vụ đang tăng dần tỷ trọng trong cơ cấu nền
kinh tế. Cạnh tranh bằng dịch vụ có hiệu quả rất cao vì khi đó khách hàng thấy
bản thân mình đợc tôn trọng.
Khi một DN thực hiện một chiến lợc tức là ký một cam kết dài hạn dựa trên
cơ sở những nguồn lực và năng lực nhất định. Nh vậy, một khi các đối thủ cạnh
tranh đã thiết lập những cam kết dài hạn về một phơng thức kinh doanh nào đó,
thì các đối thủ này cũng chậm trong việc sao chép lợi thế cạnh tranh của một DN
đợc đổi mới.
Sự vận động tổng thể của môi trờng ngành thể hiện ở mức độ năng động của
ngành. Những ngành năng động nhất là những ngành có tốc độ đổi mới sản phẩm
nhanh nhất. Khi các hàng rào ngăn cản việc sao chép là thấp thì các đối thủ cạnh
tranh là rất nhiều và môi trờng luôn năng động với các đối thủ luôn thay đổi, do
đó lợi thế cạnh tranh của DN trở nên nhất thời.
8
Đề án kinh tế thơng mại
2.2. Phơng pháp xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Để hội nhập có hiệu quả, một trong những phơng hớng chính của Đảng và
Nhà nớc ta đang tiến hành là tích cực thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất và
đầu t của các ngành kinh tế. Để làm đợc điều này thì việc xác định đợc năng lực
cạnh tranh của các sản phẩm là vô cùng cần thiết để có cơ sở tiến hành điều chỉnh
cơ cấu, đồng thời xây dựng đợc những chính sách hỗ trợ và điều tiết thích hợp đối
với các ngành kinh tế và lựa chọn đợc chiến lợc hội nhập phù hợp với khả năng
của từng ngành. Đây là một số phơng pháp định lợng để xác định tính cạnh tranh
của sản phẩm đợc đánh giá từ khía cạnh nguồn lực trong nớc và khả năng cạnh
tranh nói chung so với các nớc trên thế giới thông qua việc tính các hệ số sau.
Hệ số chi phí nguồn lực trong nớc (DRC)
DRC là hệ số phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả để sản xuất ra một
loại hàng hoá nào đó. Hệ số DRC có đặc điểm là thờng chỉ thay đổi theo lợi thế so
sánh dài hạn của quốc gia chứ không bị ảnh hởng bởi những tác động nhất thời,
do vậy nó mang tính ổn định tơng đối và ngày nay nó thờng đợc sử dụng khi đánh
giá khả năng cạnh tranh của các ngành hàng.
Việc tính DRC của một ngành hàng (hay sản phẩm) đợc thực hiện theo
nguyên tắc: giá trị chi phí sản xuất của các đầu vào trung gian đợc tính theo mức
giá thế giới, còn giá trị của các nhân tố sản xuất đợc tính theo chi phí cơ hội.
Hệ số bảo hộ hữu hiệu (EPR)
Để đánh giá mức độ bảo hộ thực tế ngời ta sử dụng mức độ bảo hộ hữu hiệu
(EPR). EPR là mức độ bảo hộ thực tế đối với cả quá trình sản xuất chứ không
dùng hệ số xác định chỉ mức độ bảo hộ đối với sản phẩm đầu ra (thành phẩm) của
quá trình sản xuất nh hệ số bảo hộ danh nghĩa.
Hệ số lợi thế trông thấy (RCA)
RCA của một sản phẩm hay của một quốc gia do nhà kinh tế học Balassa đề
xuất vào năm 1965, nó dùng để chỉ ra khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của
một quốc gia về một sản phẩm trong mối tơng quan với mức xuất khẩu của thế
giới về sản phẩm đó.
Đó là một số hệ số đợc sử dụng để tính toán khả năng cạnh tranh của các sản
phẩm xét từ góc độ cạnh tranh bên trong (giữa các sản phẩm khác nhau đợc sản
xuất trong một nớc) và bên ngoài (giữa các sản phẩm cùng loại của các quốc gia
khác nhau). Công cụ này dùng để xác định khả năng cạnh tranh của một mặt hàng
9
Đề án kinh tế thơng mại
trong nớc. Ngoài ra, ngày nay để xác định đợc chiến lợc cạnh tranh thích hợp, các
DN còn đi tìm hiểu về lợi thế cạnh tranh của mình so với các DN cùng ngành đợc
đề cập dới đây.
2.3 Các chiến lợc cạnh tranh quốc tế
Để xác định đợc chiến lợc cạnh tranh thích hợp, trớc hết DN phải tìm hiểu lợi
thế cạnh tranh của mình so với các DN cùng ngành.
2.3.1. Lợi thế cạnh tranh quốc tế
Lợi thế cạnh tranh là u thế đạt đợc của DN (so với các DN khác cùng ngành)
một cách tơng đối, dựa trên các nguồn lực và năng lực sản xuất của DN đó. DN có
lợi thế cạnh tranh thờng đạt đợc mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình. Tỷ suất
lợi nhuận thờng đợc xác định bằng một tỷ số nào đó, ví dụ nh lợi nhuận trên
doanh thu (ROS - return on sales) hoặc lợi nhuận trên tài sản (ROA - return on
assets). Các tỷ suất này càng cao càng thể hiện đợc lợi thế cạnh tranh của DN.
Để có lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành, DN phải có mức chi phí
đơn vị sản phẩm thấp hơn của đối thủ cạnh tranh (tạo lợi thế cạnh tranh bên
trong), hoặc làm cho sản phẩm của mình khác với sản phẩm của đối thủ cạnh
tranh (khác biệt hoá sản phẩm nhằm định giá sản phẩm cao hơn đối thủ cạnh
tranh - tạo lợi thế cạnh tranh bên ngoài), hoặc thực hiện đồng thời cả hai cách.
Quyết định lợi thế cạnh tranh phụ thuộc vào bốn yếu tố đó là: hiệu quả, chất
lợng, đổi mới và nhạy cảm với khách hàng. Cả bốn yếu tố này cùng góp phần tạo
ra chi phí thấp hoặc lợi thế đa dạng hoá đối với một DN, mang lại cho DN lợi
nhuận cao hơn mức trung bình và giúp cho DN hoạt động tốt hơn các đối thủ cạnh
tranh.
Cơ sở hình thành và duy trì lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của DN cũng nh lợi thế so sánh của một quốc gia, đều đợc
hình thành dựa trên nguồn lực và năng lực của mình.
Nguồn lực của DN đợc chia thành nguồn lực hữu hình (con ngời, đất đai, nhà
xởng, thiết bị) và nguồn lực vô hình (nhãn hiệu hàng hoá, danh tiếng, bản quyền,
bí quyết công nghệ, hay nghệ thuật marketing), nguồn lực hiện có và nguồn lực
mới. Nguồn lực đợc coi là đặc biệt khi các DN khác không thể có hoặc cha thể có
đợc.
10
Đề án kinh tế thơng mại
Năng lực của DN đợc hình thành từ những kỹ năng trong việc khai thác, phối
hợp các nguồn lực và hớng các nguồn lực vào mục đích sản xuất. Những kỹ năng
này thờng trực trong công việc hàng ngày của DN, đợc thể hiện qua cách thức ra
quyết định và quản lý các quá trình nội bộ của DN để đạt mục tiêu đã đề ra. Để có
năng lực riêng biệt, ít nhất DN phải có hoặc nguồn lực độc đáo và kỹ năng cần
thiết để khai thác nguồn lực đó, hoặc một khả năng quản lý hữu hiệu để quản lý
các nguồn lực chung.
Tuy nhiên, khi đã có đợc lợi thế cạnh tranh thì DN sẽ duy trì đợc lợi thế trong
bao lâu, nói cách khác là khi nào các đối thủ cạnh tranh cũng đạt đợc lợi thế đó.
Điều này phụ thuộc vào 3 yếu tố: độ cao của rào cản bắt chớc, khả năng của đổi
mới của đối thủ cạnh tranh và sự vận động tổng thể của môi trờng ngành.
Thờng thì nguồn lực dễ bị sao chép hơn là các kỹ năng, năng lực dựa trên cơ
sở hữu hình thờng dễ bị bắt chớc hơn các năng lực dựa trên cơ sở vô hình. Do đó,
để duy trì đợc lâu lợi thế cạnh tranh, DN phải tích cực nâng cao trình độ quản lý,
nâng cao uy tín của DN, giữ vững các bí quyết công nghệ và chiến lợc marketing.
Khi một DN thực hiện một chiến lợc tức là ký một cam kết dài hạn dựa trên
cơ sở những nguồn lực và năng lực nhất định. Nh vậy, một khi các đối thủ cạnh
tranh đã thiết lập những cam kết dài hạn về một phơng thức kinh doanh nào đó,
thì các đối thủ này cũng chậm trong việc sao chép lợi thế cạnh tranh của một DN
đợc đổi mới.
Sự vận động tổng thể của môi trờng ngành thể hiện ở mức độ năng động của
ngành. Những ngành năng động nhất là những ngành có tốc độ đổi mới sản phẩm
nhanh nhất. Khi các hàng rào ngăn cản việc sao chép là thấp thì các đối thủ cạnh
tranh là rất nhiều và môi trờng luôn năng động với các đối thủ luôn thay đổi, do
đó lợi thế cạnh tranh của DN trở nên nhất thời.
2.3.2. Chiến lợc cạnh tranh
Sau khi tìm hiểu lợi thế cạnh tranh, DN phải phân tích, đánh giá và lựa chọn
chiến lợc cạnh tranh thích hợp, tuỳ từng hoàn cảnh và từng điều kiện cụ thể. Sự
phù hợp của một chiến lợc cạnh tranh có thể đợc xác định thông qua việc kiểm tra
tính nhất quán của các mục tiêu và chính sách đã đề xuất, sự phù hợp với môi tr-
ờng, phù hợp với nguồn lực, việc truyền đạt thông tin và thực hiện.
Mục tiêu chiến lợc cạnh tranh đợc thể hiện ý định của DN trong việc khai
thác lợi thế cạnh tranh của mình trên toàn bộ thị trờng, hoặc trên một số đoạn thị
11
Đề án kinh tế thơng mại
trờng hạn chế. Mục tiêu chiến lợc hình thành dựa trên việc phân tích các yếu tố
ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động của DN.
Bằng cách kết hợp lợi thế và mục tiêu chiến lợc, có 3 dạng chiến lợc cạnh
tranh phổ biến là chiến lợc nhấn mạnh chi phí, chiến lợc khác biệt hoá và chiến l-
ợc trọng tâm hoá. Các chiến lợc này có thể đợc sử dụng riêng rẽ hoặc đợc kết hợp
với nhau.
Chiến lợc nhấn mạnh chi phí
Chi phí đợc coi là yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của DN. Chi phí càng thấp thì DN có lợi thế cạnh tranh càng cao
so với các đối thủ. Thứ nhất, DN có thể đặt mức giá thấp hơn đối thủ mà vẫn đảm
bảo lợi nhuận bằng của các đối thủ, hoặc đạt mức lợi nhuận cao hơn khi giá trong
ngành là bằng nhau. Thứ hai, khi cạnh tranh trong ngành tăng và các đối thủ bắt
đầu cạnh tranh bằng giá, thì DN sẽ đứng vững hơn trong cạnh tranh vì chi phí thấp
hơn của mình.
Để theo đuổi chiến lợc nhấn mạnh chi phí, DN phải có u thế cạnh tranh bên
trong hay khả năng làm chủ chi phí.
Tuy nhiên, vì nhấn mạnh chi phí nên sản phẩm của DN thờng không có mức
độ khác biệt hoá cao, nó chỉ có thể không quá chênh lệch so với mức của sản
phẩm khác biệt hoá. Vì vậy, chi phí thấp chỉ có u thế cạnh tranh khi sản phẩm của
DN đợc khách hàng chấp nhận.
Trong môi trờng quốc tế, cần đánh giá chiến lợc này theo 2 phơng diện: ph-
ơng diện marketing và phơng diện sản xuất. Về phơng diện marketing, việc tìm
kiếm các thị trờng mới cho phép tăng cầu tiềm năng và đạt đợc mức sản xuất tối u
nhất. Trong trờng hợp đòi hỏi chi phí để thích ứng với điều kiện đặc thù, cần phải
tính toán và so sánh giữa chi phí đầu t đặc biệt và khả năng sinh lời. Về phơng
diện sản xuất, nếu có thể, DN sẽ tổ chức sản xuất ở nớc ngoài để tận dụng nguồn
nhân công sẵn có, hạn chế các chi phí về chuyên chở, giảm chi phí trung bình ở
mức tối thiểu.
Chiến lợc khác biệt hoá sản phẩm
Khác với chiến lợc nhấn mạnh chi phí, chiến lợc khác biệt hoá dựa vào lợi thế
cạnh tranh bên ngoài, tức là tính độc đáo hay mức độ hoàn thiện của sản phẩm về
kỹ thuật, dịch vụ hay hình ảnh. Mục đích của chiến lợc này là tạo ra sản phẩm
hàng hoá hoặc dịch vụ đợc ngời tiêu dùng nhận thức là độc đáo nhất theo nhận xét
12
Đề án kinh tế thơng mại
của họ. Khả năng khác biệt hoá sản phẩm cho phép DN có thể đặt mức giá cao
hơn đáng kể so với mức trung bình của ngành vì đợc khách hàng tin tởng chất l-
ợng của sản phẩm đã đợc khác biệt hoá tơng ứng với chênh lệch giá đó.
Sự khác biệt hoá sản phẩm có thể đạt đợc theo ba cách chủ yếu: chất lợng,
đổi mới và tính thích nghi với khách hàng (nhu cầu, tâm lý). Ngời khác biệt hoá
càng ít bắt chớc đối thủ càng bảo vệ đợc khả năng cạnh tranh của mình, do vậy
mà sự hấp dẫn thị trờng của họ càng mạnh mẽ và rộng khắp. DN chọn chiến lợc
này có thể quyết định hoạt động trên phạm vi thị trờng rộng nhng cũng có thể chỉ
lựa chọn phục vụ một số mảng thị trờng mà ở đó có lợi thế khác biệt hoá đặc biệt.
Khả năng khác biệt hoá mạnh mẽ cho phép DN thoát khỏi áp lực cạnh tranh,
nhất là khi trên thị trờng có rất nhiều sản phẩm tơng tự. Để sự khác biệt hoá về
sản phẩm đợc khách hàng nhận thức một cách rõ ràng và bền vững, DN phải thực
hiện những cố gắng to lớn về giao tiếp, truyền tin.
Chiến lợc tập trung hay trọng tâm hoá
Chiến lợc này chủ yếu định hớng phục vụ nhu cầu của một nhóm hữu hạn ng-
ời tiêu dùng hoặc một mảng thị trờng, dựa trên lợi thế cạnh tranh là tập trung các
nguồn lực cho phép phát huy tối đa năng lực của DN nhỏ để cạnh tranh với các
đối thủ có u thế. Chiến lợc này tạo cơ hội cho nhà kinh doanh tìm cách lấp đầy
khoảng trống nhu cầu cần thiết của khách hàng. Về bản chất, chiến lợc tập trung
hoá là chiến lợc cạnh tranh theo đuổi một khả năng riêng biệt nào đó (hiệu quả,
chất lợng, đổi mới, tính thích nghi với khách hàng) dựa trên một loạt lợi thế chi
phí thấp hoặc khác biệt hoá sản phẩm, hoặc cả hai.
Khi DN tấn công thị trờng thế giới, điều quan trọng trớc tiên là phải tiến hành
phân đoạn thị trờng để tìm kiếm thị trờng thích hợp - là thị trờng mà DN có mức
độ làm chủ hoàn toàn, để có thể tránh sự cạnh tranh bởi DN dẫn đầu về chi phí
hoặc DN khác biệt hoá. Về phơng diện sản xuất, chiến lợc trọng tâm hoá vẫn theo
đuổi logic chi phí tối thiểu. Ràng buộc quan trọng nhất là phải đảm bảo giữ vững
hình ảnh chuyên môn hoá và hình ảnh nhãn hiệu của DN ở nớc ngoài.
2.4. Tầm quan trọng của việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
Cạnh tranh thơng mại đòi hỏi các DN phải điều chỉnh chiến lợc hoạt động
của mình thông qua các hoạt động nh: tập trung và huy động nguồn lực, phát huy
các lợi thế cạnh tranh, đảm bảo cạnh tranh có hiệu quả trong tình hình mới. Điều
đó đòi hỏi các DN hiện nay phải luôn chuẩn bị và đoán trớc xu hớng cạnh tranh,
sẵn sàng linh hoạt sử dụng vũ khí cạnh tranh hữu hiệu.
13
Đề án kinh tế thơng mại
Sức cạnh tranh của sản phẩm thể hiện qua nhiều khía cạnh, có thể là bởi thế
mạnh của chất lợng, bởi sự hấp dẫn của hình thức, bởi giá cả phải chăng, hoặc vì
thoả mãn nhu cầu tâm lý, địa vị của khách hàng Đặc biệt nếu sản phẩm có tính
cạnh tranh quốc tế cao, trong trờng hợp DN tiến hành kinh doanh tiêu thụ trên thị
trờng quốc tế, trớc hết sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho DN vì sản phẩm đã giành đ-
ợc sự quan tâm, u ái của khách hàng, sau là nâng cao mặt bằng chất lợng của sản
phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và những đòi hỏi ngày càng khắt khe của
ngời tiêu dùng. Khi tiến hành kinh doanh trên thị trờng ngoài nớc, DN phải đối
mặt với rất nhiều vấn đề phức tạp. Không đơn giản nh sản xuất kinh doanh trong
nớc, việc sản xuất nếu không có điều kiện tổ chức tại nớc ngoài, DN phải chịu rất
nhiều khoản chi phí chuyên chở cũng nh những rủi ro có thể gặp trên đờng. Hơn
nữa, DN có thể không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nớc ngoài,
nh vậy họ không thể nắm bắt đợc kịp thời nhu cầu của khách hàng. Để thu đợc
nhiều lợi nhuận trong kinh doanh, nhà kinh doanh quốc tế không còn cách nào
khác là phải tìm mọi cách để hoàn thiện sản phẩm của mình, nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm giữa muôn ngàn sản phẩm cùng loại khác cũng đang tràn
ngập trên thị trờng thế giới.
Nh đã nói, DN có thể tăng khả năng cạnh tranh của mình qua các biện pháp
nhấn mạnh chi phí, hoặc khác biệt hoá sản phẩm, hoặc kết hợp cả hai trong phạm
vi có thể. Tuy nhiên, mỗi loại chiến lợc cạnh tranh đều có những u nhợc điểm
nhất định, phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. DN phải đánh giá đúng tiềm lực
của mình và xu hớng tiêu dùng sản phẩm để sử dụng hợp lý và một cách có hiệu
quả chiến lợc cạnh tranh.
3 . Các nhân tố ảnh hởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm và tình hình
cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam
3.1. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh
Theo Micheal Porter, chiến lợc cạnh tranh đợc xây dựng qua câu trả lời các
câu hỏi sau :
- DN hiện đang làm gì ?
- Những gì đang diễn ra trong môi trờng hoạt động ?
- DN nên làm gì ?
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét