ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Khi cho vay, người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị
vốn tín dụng nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái
hiện vật như hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản
- Giai đoạn 2: Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng
Sau khi nhận được vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó
để thoả mãn một mục đích nhất định. Ở giai đoạn này, vốn vay được sử dụng trực
tiếp nếu là hàng hoá hay được sử dụng để mua hàng hoá nếu là vay bằng tiền để
thoả mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay. Tuy nhiên, người đi
vay không được quyền sở hữu về giá trị đó mà chỉ được tạm thời sử dụng trong
một thời gian nhất định. Sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay
phải hoàn trả cho người cho vay.
- Giai đoạn 3: Sự hoàn trả vốn
Đây là giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của vốn. Sau khi vốn đã hoàn
thành một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ thì vốn được người đi vay
hoàn trả lại cho người cho vay kèm theo một khoản lợi tức trả cho việc sử dụng
vốn. Đây chính là giai đoạn quyết định buộc các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn của mình. Như vậy, sự hoàn trả tín dụng là đặc trưng thuộc về bản
chất vận động của tín dụng, là điểm khác biệt giữa tín dụng với các phạm trù kinh
tế khác.
Tín dụng là một phạm trù kinh tế không thể thiếu được trong nền kinh tế thị
trường, nó giúp cho việc nâng cao hiệu quả kinh tế của nhà sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là người cần vốn có thể tìm kiếm vốn tín dụng theo con
đường nào cho có lợi nhất. Có hai cách để bổ sung vốn tín dụng:
- Theo con đường tài chính trực tiếp: Nguồn vốn có thể vận động thẳng từ
người tích luỹ - là người cho vay cuối cùng đến người đi vay - người chi tiêu cuối
cùng.
- Theo con đường tài chính gián tiếp: Nguồn vốn vận động từ người cho
vay đến người đi vay thông qua sự hoạt động có hiệu quả của các trung gian tài
chính mà ngân hàng là tổ chức trung gian đóng vai trò quan trọng.
SV : TRẦN VĂN PHONG 5 LỚP : TCDN46Q
5
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Thông qua các nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có mà ngân hàng có khả năng
chuyển các nguồn vốn tích luỹ sang tiêu dùng để đem lại hiệu quả hơn. Nghiệp vụ
nợ là nghiệp vụ tạo vốn. Thông qua các hình thức huy động này ngân hàng tập
trung được những khoản tiền nhàn rỗi không sinh lời và tiến hành phân phối lại các
nguồn vốn đó qua việc thực hiện cho vay đối với nền kinh tế.
Quá trình huy động vốn diễn ra liên tục, nên ngân hàng có khả năng thoả mãn
nhu cầu vay của mọi đối tượng vào bất cứ lúc nào và trong một chừng mực nhất
định, vốn vay không bị hạn chế về mặt thời gian và không bị hạn chế về mặt số
lượng. Ở đây, với tư cách là trung gian tài chính, ngân hàng đã khắc phục được
nhược điểm của hình thức tín dụng trực tiếp là sự không phù hợp về mặt số lượng
cho vay và nhu cầu cần vốn, giữa thời gian tiền tệ được nhàn rỗi với thời gian cần
vốn của người đi vay. Như vậy, thông qua con đường tín dụng ngân hàng, nhu cầu
vốn trong nền kinh tế được đáp ứng một cách linh hoạt, kịp thời và đầy đủ nhất.
1.1.2. Hoạt động tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Trước khi chuyển dịch sang cơ chế thị trường, toàn bộ nền kinh tế nước ta
hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, hoạt động của hệ thống
ngân hàng cũng chịu sự chi phối của cơ chế đó. Ngân hàng hoạt động theo cơ chế
một cấp. Ngân hàng Nhà nước vừa đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước về lưu
thông tiền tệ và tín dụng, vừa đảm nhiệm chức năng kinh doanh. Trên thực tế, ngân
hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh của mình hoàn toàn theo sự chỉ đạo bằng
kế hoạch của Nhà nước. Vốn hoạt động của ngân hàng phần lớn lấy từ nguồn cấp
phát chứ không phải từ nguồn vốn huy động trong xã hội. Việc cho vay của ngân
hàng thực hiện theo kế hoạch của Nhà nước với các đối tượng cho vay theo chỉ
đạo. Chính vì vậy, việc cấp tín dụng chỉ dựa trên kế hoạch và sự chỉ đạo cấp trên
mà không cần xem xét hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng, khả năng thu hồi
vốn và lãi, các khoản cho vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng
không hề ảnh hưởng đến bản thân sự tồn tại cùng hoạt động của ngân hàng.
Trong cơ chế thị trường, hệ thống ngân hàng được chia thành hai cấp: Ngân
hàng Nhà nước đảm nhiệm chức năng quản lý vĩ mô và các ngân hàng thương mại
SV : TRẦN VĂN PHONG 6 LỚP : TCDN46Q
6
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
thực hiện kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Ngân hàng thương mại hoạt động kinh
doanh độc lập trên cơ sở hạch toán lỗ lãi, "lời ăn, lỗ chịu". Nguồn vốn trong kinh
doanh của ngân hàng thương mại giờ đây không còn do Nhà nước bao cấp mà phải
tự huy động từ những nguồn nhàn rỗi trong xã hội, tiến hành các hoạt động kinh
doanh mang lại lợi nhuận bù đắp các chi phí đầu vào, trên nguyên tắc phù hợp với
các chế độ, chính sách kinh tế - xã hội hiện hành của Nhà nước. Hoạt động tín
dụng là hoạt động kinh doanh quan trọng nhất, mang lại phần lớn lợi nhuận cho
ngân hàng thương mại, được thực hiện trên cơ sở tính toán về khối lượng các
nguồn vốn mà ngân hàng huy động có thể sử dụng cho vay và nhu cầu về vốn tín
dụng trong xã hội. Các khoản tín dụng mà ngân hàng thương mại cấp ra phải đảm
bảo được hiệu quả kinh tế, thu hồi được vốn và lãi đúng hạn. Lãi thu được không
những bù đắp phần lãi mà ngân hàng phải trả cho người gửi tiền và các chi phí
khác trong việc thực hiện khoản cho vay mà còn phải tạo ra lợi nhuận cho hoạt
động tín dụng.
Cũng như các doanh nghiệp khác trong cơ chế thị trường, hoạt động của ngân
hàng thương mại phải chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan, trong
đó có quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường luôn dẫn đến kết
quả một người thắng và nhiều kẻ thất bại. Và cạnh tranh là quá trình diễn ra liên
tục, các doanh nghiệp luôn phải cố gắng để là người chiến thắng. Ngược lại, điều
đó cũng thể hiện kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn tiềm ẩn những rủi
ro, thất bại. Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế luôn phải đương đầu với áp
dụng của cạnh tranh và hoạt động của nó chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro. Rủi ro
có thể xảy ra trong bất cứ loại hình hoạt động nào của ngân hàng thương mại như
rủi ro về tín dụng, rủi ro về thanh toán, rủi ro về lãi suất, rủi ro về tỷ giá hối đoái
Trong đó, rủi ro tín dụng là rủi ro mà hậu quả do nó gây ra có thể tác động nặng nề
đến các hoạt động kinh doanh khác, thậm chí đe doạ sự tồn tại của chính ngân
hàng thương mại đó.
1.1.3. Đặc trưng của tín dụng
SV : TRẦN VĂN PHONG 7 LỚP : TCDN46Q
7
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
- Lòng tin: Là sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả đầy đủ và đúng hạn của
người đi vay đối với người cho vay.
- Tính thời hạn: Là thời gian người đi vay sử dụng tiền vay.
- Tính hoàn trả: Đây là đặc trưng cơ bản nhất và sự hoàn trả là tiêu chuẩn
phân biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ tài chính khác. Mặt khác, nếu không có
sự hoàn trả thì đó là một quan hệ tín dụng không hoàn hảo.
1.1.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng
- Thứ nhất: Tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất
đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Vấn đề thiếu vốn thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp, do đó việc cấp
vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho
quá trình sản xuất được liên tục.
Trong nền sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn hình thành
vốn lưu động hay vốn cố định của doanh nghiệp. Vì vậy, tín dụng đã góp phần
động viên vật tư hàng hoá đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.
- Thứ hai: Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Hoạt động của ngân hàng là huy động vốn tạm thời chưa sử dụng thường nằm
phân tán ở khắp nơi như trong các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, trong dân
cư để thực hiện cho các doanh nghiệp vay. Đầu tư tập trung là quá trình tất yếu của
nền sản xuất hàng hoá, nên để tài trợ cho các ngành kinh tế tất yếu phải sử dụng tín
dụng ngân hàng.
- Thứ ba: Tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân
chuyển tiền tệ.
Bất cứ một nền kinh tế nào cũng cần xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý và
chuyển dịch dần theo hướng đã hoạch định. Tín dụng đã trực tiếp tham gia vào
quá trình luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền
kinh tế, đặc biệt những ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của Nhà nước.
SV : TRẦN VĂN PHONG 8 LỚP : TCDN46Q
8
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
- Thứ tư: Tín dụng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế.
Khi có sự tài trợ của ngân hàng, mỗi doanh nghiệp phải thực hiện chế độ hạch
toán kinh tế và các định chế tài chính khác. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, các
doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng, tức là phải đảm bảo hoàn trả lãi và
nợ vay đúng hạn cũng như chấp hành các điều khoản khác đã ghi trong hợp đồng
tín dụng. Do vậy, khi vay vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện nâng
cao lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Thứ năm: Tín dụng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với
nước ngoài.
Ngay nay, phát triển kinh tế của một nước luôn gắn liền với thị trường thế
giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế
các nước với nhau. Đối với các nước đang phát triển nói chung, nước ta nói riêng,
tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá, đồng thời
nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để đáp ứng vốn cho công cuộc công nghiệp hoá và
hiện đại hoá nền kinh tế.
Tín dụng ngày nay còn là một công cụ để các nước giúp đỡ cho các doanh
nghiệp trong nước có đủ năng lực để xâm nhập thị trường thế giới như tài trợ cho
việc mua bán chịu hàng hoá, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm cho
phù hợp với yêu cầu về quy mô và chất lượng của thị trường thế giới.
- Thứ sáu: Tín dụng là công cụ tài trợ vốn cho các ngành kinh tế kém phát
triển và ngành kinh tế mũi nhọn.
Thông qua hệ thống ngân hàng mà cụ thể là hoạt động tín dụng, Nhà nước sẽ
tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất
thấp, thời hạn dài, mức vốn lớn. Bên cạnh đó, Nhà nước còn tập trung vốn tín dụng
để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành này phát triển sẽ tạo cơ sở và
lôi cuốn các ngành kinh tế khác phát triển theo.
- Thứ bảy: Tín dụng ngân hàng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều
chỉnh chiến lược kinh tế, góp phần chống lạm phát.
SV : TRẦN VĂN PHONG 9 LỚP : TCDN46Q
9
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Tín dụng ngân hàng sẽ tạo nên các nguồn vốn từ việc huy động các nguồn
tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất linh hoạt và đầu tư vào các công
trình trọng điểm mà chiến lược kinh tế đã đề ra. Hình thức huy động vốn bằng tín
dụng không làm tăng khối lượng tiền tệ trong lưu thông nên không ảnh hưởng đến
lưu thông tiền tệ và giá cả. Ngược lại, nếu Nhà nước dùng biện pháp phát hành tiền
để tạo nguồn vốn đầu tư cho các công trình kinh tế thì sẽ làm tăng khối lượng tiền
trong lưu thông, gây nên sự mất cân đối trong quan hệ hàng hoá - tiền tệ, ảnh
hưởng trực tiếp đến giá cả và đời sống kinh tế xã hội.
1.2. RỦI RO VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng và các loại rủi ro tín dụng trong hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại
Rủi ro và đặc biệt là rủi ro tín dụng là nỗi lo thường trực của các ngân hàng và
các tổ chức tài chính .Trong thời đại toàn cầu hoá, các mối quan hệ kinh tế, đầu tư
thương mại thế giới ngày càng trở nên tinh vi, nhạy cảm, phức tạp và ngày càng
gắn kết phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động tài chính – ngân hàng cũng bị ràng buộc
chặt chẽ bởi xu thế của những quan hệ này. Mỗi sự thành công hay thất bại hoặc
chỉ một sự cố nghiêm trọng nào đó xảy ra đối với một hoặc một số ngân hàng- tổ
chức tài chính của một quốc gia thì lập tức sẽ có ảnh hưởng dây chuyền tới các tổ
chức ngân hàng- tài chính khác của quốc gia đó. Trong hoạt động tín dụng ngân
hàng thương mại xảy ra khi xuất hiện các biến cố làm cho bên đối tác (khách hàng)
không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình đối với ngân hàng vào thời điểm
đến hạn.
Nói cách khác, rủi ro tín dụng là loại rủi ro chủ yếu phát sinh trong hoạt động
tín dụng của ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng là hiện tượng khách hàng vay
chậm trả hoặc không trả được đầy đủ nợ gốc và lãi theo cam kết. Các khoản nợ
đến hạn nhưng khách hàng không có khả năng trả nợ ngay cho ngân hàng sẽ gây
rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Trong thực tế, không hiếm trường hợp người đi vay
không thực hiện được nghĩa vụ của mình đối với chủ nợ do các nguyên nhân khách
quan hay chủ quan gây ra. Đó là các trường hợp khi đến hạn hoàn trả vốn vay,
SV : TRẦN VĂN PHONG 10 LỚP : TCDN46Q
10
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
người đi vay không thể thực hiện việc trả nợ đối với người cho vay, dẫn đến các
khoản nợ quá hạn.
Các loại rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại gồm có :
- Rủi ro đọng vốn:
Khách hàng sẽ trả nợ cho ngân hàng nhưng sau một thời gian kể từ thời điểm
đáo hạn, như vậy ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro đọng vốn.
Đối với bản thân ngân hàng thương mại, bất kỳ khoản nợ quá hạn nào cũng
dẫn đến rủi ro ứ đọng vốn. Thời hạn của các khoản tín dụng cấp cho khách hàng
luôn được xác định rõ trong hợp đồng tín dụng, đó chính là thời gian của một vòng
quay vốn tín dụng đối với ngân hàng thương mại. Các khoản nợ quá hạn, trước hết
làm cho ngân hàng thương mại không thu hồi được vốn và lãi đúng thời hạn đặt ra
trong hợp đồng. Nếu có thể thu lại được toàn bộ sau một thời gian quá hạn nhất
định thì điều đó cũng làm cho thời gian của một vòng quay vốn tín dụng thực tế
lớn hơn vòng quay vốn tín dụng đã thoả thuận. Như vậy, nợ quá hạn đã làm giảm
tốc độ chu chuyển vốn tín dụng của ngân hàng thương mại, dẫn đến làm giảm hiệu
quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng.
Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại còn gây nên
hậu quả làm giảm khả năng thanh toán, thậm chí mất khả năng thanh toán của ngân
hàng thương mại. Mặt khác, ngân hàng thương mại hoạt động theo nguyên tắc "đi
vay để cho vay", nghĩa là nguồn vốn cấp tín dụng cho khách hàng được thực hiện
trên cơ sở vốn huy động được trong xã hội, nên ngân hàng thương mại phải có
trách nhiệm cân đối hoạt động cho vay sao cho có thể đảm bảo thực hiện được
nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi với các chủ nợ của mình.
Các khoản nợ quá hạn, một mặt làm kéo dài thời hạn của các khoản tín dụng,
mặt khác có khả năng dẫn đến việc mất vốn của ngân hàng thương mại và do đó có
thể làm cho ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng đến hạn phải trả cho người
gửi tiền nhưng vẫn chưa nhận được nợ từ người vay, làm giảm khả năng thanh toán
và thậm chí có thể làm mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại. Việc
SV : TRẦN VĂN PHONG 11 LỚP : TCDN46Q
11
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
bị mất khả năng thanh toán tạm thời của ngân hàng thương mại sẽ làm giảm uy tín
kinh doanh của ngân hàng một cách nghiệm trọng, có thể dẫn đến hiện tượng
những người gửi tiền đồng loạt đòi rút tiền, đẩy ngân hàng đến bờ vực sụp đổ phá
sản.
- Rủi ro mất vốn:
Rủi ro không thu được nợ tức là ngân hàng mất vốn, lợi tức và cả chi phí
trong kinh doanh. Điều này có thể dẫn đến kinh doanh thua lỗ, ngân hàng mất khả
năng thanh toán và thậm chí phá sản. Mặt khác, khi các doanh nghiệp không trả
được nợ thì các ngân hàng buộc phải sử dụng các biện pháp đảm bảo để thu hồi nợ
vay. Tuy nhiên, rủi ro cũng tiềm ẩn ngay cả trong các đảm bảo nợ vay như:
+ Rủi ro do đánh giá tài sản thế chấp và cầm cố không đúng giá trị thực,
nghĩa là đánh giá giá trị của tài sản lớn hơn giá trị thực của tài sản đó.
+ Tài sản đảm bảo không đáp ứng nhu cầu của thị trường và khó chuyển
nhượng nên muốn thanh lý tài sản thế chấp hoặc cầm cố cũng rất khó. Mặt khác,
một số tài sản càng để càng bị mất giá và có thể bị hao mòn vô hình hay hữu hình,
hơn nữa trong khi không bán được ngân hàng còn mất thêm chi phí bảo quản, làm
tăng thêm chi phí của ngân hàng.
Do vậy, rủi ro tín dụng gây ra tình trạng đọng vốn hay mất vốn, mất khả năng
thanh toán của ngân hàng thương mại, thậm chí có thể dẫn đến sự sụp đổ của ngân
hàng thương mại. Sự sụp đổ của một ngân hàng thương mại trong hệ thống các
ngân hàng thương mại có tác động rất mạnh, đe doạ sự tồn tại của các ngân hàng
thương mại khác, nhiều khi có thể kéo theo sự sụp đổ dây chuyền của nhiều ngân
hàng thương mại trong cùng hệ thống. Sự sụp đổ này sẽ làm rối loạn lưu thông tiền
tệ trong nước, làm giảm giá đồng bản tệ, dẫn đến đình trệ sản xuất kinh doanh,
gây khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Sự tác động này không chỉ có ảnh hưởng
mạnh mẽ trong phạm vi một quốc gia mà nó có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế của
các nước có liên quan, ảnh hưởng đến nền tài chính thế giới.
1.2. 2. Thiệt hại do rủi ro gây ra
1.2.2.1. Thiệt hại đối với ngân hàng
SV : TRẦN VĂN PHONG 12 LỚP : TCDN46Q
12
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Khi xảy ra rủi ro tín dụng, nó sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh
của ngân hàng, cụ thể sẽ thiếu tiền chi trả cho khách hàng, dẫn đến rủi ro về thanh
khoản, lợi nhuận ngân hàng giảm thấp và tuỳ theo mức độ rủi ro nặng hay nhẹ mà
ảnh hưởng nhiều hay ít, tình hình xấu nhất là mất khả năng chi trả và dẫn đến phá
sản.
1.2.2.2. Thiệt hại đối với khách hàng
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên cơ sở
hạch toán lỗ lãi, tức là "lời ăn, lỗ chịu". Ngân hàng cấp tín dụng cho doanh
nghiệp vì mục đích cung cấp thêm vốn cần thiết cho sản xuất kinh doanh, mở rộng
quy mô sản xuất và lưu thông hàng hoá, tạo thêm nhiều sản phẩm mới cho xã hội,
tạo công ăn việc làm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, đồng thời tăng tích luỹ cho
nền kinh tế. Do vậy, nếu rủi ro tín dụng xảy ra, doanh nghiệp không có khả năng
trả nợ ngân hàng tức là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả.
Trong một số trường hợp, doanh nghiệp bị ứ đọng vốn, nếu nghiêm trọng có thể đi
đến kinh doanh thua lỗ, dẫn đến giải thể, phá sản doanh nghiệp.
1.2.2.3. Thiệt hại đối với nền kinh tế
Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến toàn bộ các hoạt động của nền
kinh tế. Vì vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra làm phá sản một vài ngân hàng, khi đó có
khả năng phát sinh lây lan sang các ngân hàng khác,có thể dẫn đến phá sản toàn bộ
hệ thống ngân hàng, do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
1.2.3. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
thương mại
Có thể đo lường rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại thông qua một
số chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu 1: Dư nợ tín dụng trên tổng tài sản có.
Dư nợ tín dụng
Tổng tài sản có
Các ngân hàng xem xét, phân tích chỉ số này nhằm mục đích tính toán hiệu
quả tín dụng của một đồng tài sản có và quy mô hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Trường hợp chỉ số Dư nợ tín dụng/ Tổng tài sản có của ngân hàng so với chỉ
SV : TRẦN VĂN PHONG 13 LỚP : TCDN46Q
13
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
số 1 Tổng dư nợ/Nguồn vốn huy động có độ chênh lệch tương đối lớn (chỉ số 1 lớn
gấp đôi chỉ số 2) thì điều đó có nghĩa là ngân hàng đang có nguồn vốn huy động
khá cao so với vốn tự có. Trong trường hợp ngân hàng có chỉ số này so với chỉ số 1
Tổng dư nợ / Nguồn vốn huy động không chênh lệch lắm (chỉ số 2 không nhỏ hơn
nhiều chỉ số 1) thì có thể khẳng định nguồn vốn huy động của ngân hàng tương đối
thấp, ngân hàng đã sử dụng nhiều nguồn vốn hỗ trợ khác như vốn chiếm dụng và
vốn tự có để kinh doanh.
- Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ nợ quá hạn/ Tổng dư nợ cho vay.
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Các ngân hàng xem chỉ tiêu này như là một chỉ tiêu cơ bản trong việc đánh
giá chất lượng của hoạt động tín dụng. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt, song không
phải chỉ tiêu này cao là khả năng không thu hồi được nợ lớn. Theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
lớn hơn 7% được xem là ngân hàng yếu kém; nếu chỉ số này dưới 3% thì ngân
hàng đó được đánh giá là ngân hàng có nghiệp vụ tín dụng tốt, có mức độ rủi ro tín
dụng thấp và được nhận nhiều điểm trong thang điểm xếp loại các ngân hàng
thương mại của Ngân hàng Nhà nước.
- Chỉ tiêu 3: Nợ quá hạn khó đòi trên tổng số nợ quá hạn.
Nợ quá hạn khó đòi
Tổng số nợ quá hạn
Khi phân chia nợ quá hạn theo tiêu chí khả năng thu hồi, có thể tách riêng
phần nợ quá hạn khó đòi (nợ quá hạn trên 360 ngày và các khoản xác định là
không có khả năng thu hồi). Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi trên tổng số nợ quá hạn càng
cao chứng tỏ khả năng thu hồi thấp, khả năng mất vốn cao, ảnh hưởng đến tài
chính của ngân hàng, chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp. Khi đánh giá chỉ
tiêu nợ quá hạn khó đòi, phải xem xét trên hai khía cạnh: Số tương đối và số tuyệt
đối. Vì khi tỷ lệ nợ quá hạn mới tăng lên (chất lượng tín dụng giảm) thì tỷ lệ nợ
SV : TRẦN VĂN PHONG 14 LỚP : TCDN46Q
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét