Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
5
Ví dụ, ở Việt Nam, theo điều 66 nghị định 144/2003/NĐ - CP quy định
mức vốn pháp định cho từng loại hình kinh doanh như sau:
Môi giới: 3 tỷ đồng
Tự doanh: 12 tỷ đồng
Quản lý danh mục đầu tư: 3 tỷ đồng
Bảo lãnh phát hành: 22 tỷ đồng
Tư vấn đầu tư chứng khoán: 3 tỷ đồng
Trường hợp CTCK xin cấp phép cho nhiều loại hình kinh doanh thì vốn
pháp định là tổng số vốn pháp định của từng loại hình riêng lẻ.
Tại Nhật Bản, đối với các công ty tham gia 3 loại hình kinh doanh là môi
giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành phải có vốn điều lệ là: 10 tỷ Yên.
Ở Trung Quốc, đối với các CTCK đa năng (thực hiện các nghiệp vụ) vốn
điều lệ là 500 triệu NDT, các công ty môi giới chứng khoán là 50 triệu NDT.
Điều kiện về nhân sự: Những người quản lý hay nhân viên giao dịch
của công ty phải đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, trình độ chuyên môn và
kinh nghiệm, cũng như mức độ tín nhiệm, tính trung thực. Hầu hết các nước
đều yêu cầu nhân viên của CTCK phải có giấy phép hành nghề. Những người
giữ chức danh quản lý còn phải đòi hỏi có giấy phép đại diện.
Điều kiện về cơ sở vật chất: Các tổ chức và cá nhân sáng lập CTCK phải
đảm bảo yêu cầu cơ sở vật chất tối thiểu cho CTCK.
Ở Việt Nam, theo điều 67, nghị định 144/2003/NĐ - CP của chính phủ
quy định bên cạnh yêu cầu về vốn pháp định như trên, các CTCK muốn được
cấp giấy phép hoạt động phải đáp ứng thêm các điều kiện sau đây:
Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển
kinh tế – xã hội và phát triển ngành chứng khoán
Có đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho việc kinh doanh chứng khoán
Giám đốc (tổng giám đốc), các nhân viên kinh doanh (không kể nhân
viên kế toán, văn thư hành chính, thủ quỹ) của CTCK phải có giấy phép hành
nghề chứng khoán do UBCKNN cấp.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
6
Sau khi đã đáp ứng được các điều kiện, các nhà sáng lập CTCK phải
thành lập hỗ sơ xin cấp phép lên UBCKNN. Hỗ sơ thông thường bao gồm các
loại tài liệu sau:
1. Đơn xin cấp phép
2. Giấy phép thành lập doanh nghiệp
3. Phương án nhân sự
4. Phương án hoạt động
5. Điều lệ CTCK
6. Các tài liệu minh chứng về vốn, tình hình sản xuất kinh doanh, cơ sở
vật chất và trình độ chuyên môn của đội ngũ quản lý và các giấy tờ khác theo
quy định.
Sau thời gian nghiên cứu hồ sơ, UBCKNN sẽ thông báo kết quả về việc
chấp thuận hay từ chối cấp phép cho thành lập CTCK.
Nếu được chấp thuận, trước khi khai trương, CTCK phải tiến hành công
bố công khai việc thành lập trên báo và các phương tiện thông tin khác. Nội
dung công bố do UBCKNN quy định.
1.1.4/ Nguyên tắc hoạt động của CTCK
CTCK hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc
mang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức:
CTCK phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của
khách hàng.
Kinh doanh có kỹ năng, tận tụy, có tinh thần trách nhiệm.
Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty.
Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hành, không được tiết lộ các thông tin về
tài khoản khách hành khi chưa được khách hành đồng ý bằng văn bản trừ khi
có yêu cầu của cơ quan quả lý Nhà nước.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
7
CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin
cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải
gánh chịu, đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu
tư mà họ tư vấn.
CTCK không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản
thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình.
Ở nhiều nước, các công ty chứng khoán phải đóng góp tiền vào quỹ bảo
vệ nhà đầu tư chứng khoán để bảo vệ lợi ích của khách hàng trong trường hợp
CTCK mất khả năng thanh toán.
Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không được
phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình,
gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng.
Các CTCK không được tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách
hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán
hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng.
Nhóm nguyên tắc mang tính tài chính:
Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo
cáo theo quy định của UBCKNN. Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết
kinh doanh chứng khoán với khách hàng.
CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để
kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch của
khách hàng.
CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản
của mình. CTCK không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế
chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hành đồng ý bằng văn bản.
1.1.5/ Vai trò, chức năng của CTCK
Hoạt động của TTCK trước hết cần những người môi giới trung gian, đó
là các CTCK – một định chế tài chính trên TTCK, có nghiệp vụ chuyên môn,
đội ngũ nhân viên lành nghề và bộ máy tổ chức phù hợp để thực hiện vai trò
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
8
trung gian môi giới mua – bán chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một
số dịch vụ khác cho cả người đầu tư lẫn tổ chức phát hành.
CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
nói chung và của TTCK nói riêng. Nhờ các CTCK mà chứng khoán được
lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua
đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng
có hiệu quả.
Chức năng cơ bản của CTCK:
Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến
người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành).
Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc
khớp lệnh).
Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán
ra tiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng).
Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh
hoặc vai trò nhà tạo lập thị trường).
Vai trò của CTCK:
Với những đặc điểm trên, CTCK có vai trò quan trọng đối với những
chủ thể khác nhau trên TTCK.
Đối với các tổ chức phát hành. Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của
các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng
khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các
công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà
phát hành.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung
gian. Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành
không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian
mua bán. Các CTCK sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
9
nhà phát hành. Và khi thực hiện công việc này, CTCK đã tạo ra cơ chế huy
động vốn cho nền kinh tế thông qua TTCK.
Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn
đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời
gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các nhà đầu tư. Đối với hàng hoá
thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và
người bán. Tuy nhiên, đối với TTCK, sự biến động thường xuyên của giá cả
chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn
kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu
tư. Nhưng thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề
nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
Đối với TTCK: Đối với TTCK, CTCK thể hiện hai vai trò chính:
(1) Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng khoán là
do thị trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua
và người bán phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không được tham
gia trực tiếp vào quá trình mua bán. Các CTCK là những thành viên của thị
trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá.
Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá
đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự
tham gia định giá của các CTCK.
Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường.
Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính
mình, nhiều CTCK đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai
trò bình ổn thị trường.
(2) Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.
TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản
tài chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK
tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các
hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các CTCK không những
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
10
huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành
mà còn tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các
chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán trên thị trường cấp 2, do
thực hiện các giao dịch mua và bán các CTCK giúp người đầu tư chứng
khoán chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động
đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính.
Đối với cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai trò cung cấp thông tin
về thị trường chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện
mục tiêu đó. Các CTCK thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo
lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng
khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu
của TTCK là các thông tin cần phải được công khai hóa dưới sự giám sát của
các cơ quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của
hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì CTCK
cần phải cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động. Các thông tin
CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị
trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về
các nhà đầu tư v.v…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có
thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị
trường.
Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên TTCK, có vai
trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành, đối với
cơ quan quản lý thị trường và đối với TTCK nói chung. Những vai trò này
được thể hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của CTCK.
1.2/ CÁC NGHIỆP VỤ CỦA CTCK
1.2.1/ Các nghiệp vụ chính
1.2.1.1/ Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động tung gian hoặc đại diện mua, bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó các CTCK đại
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
11
diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại
SGDCK hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối
với kết quả giao dịch của mình.
Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng các sản
phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với
nhà đầu tư mua chứng khoán. Và trong những trường hợp nhất định, hoạt
động môi giới sẽ trở thành người bạn, người chia sẽ những lo âu, căng thẳng
và đưa ra nhưng lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có
những quyết định tỉnh táo.
Xuất phát từ yêu cầu trên, nghề môi giới đòi hỏi phải có những phẩm
chất, tư cách đạo đức, kỹ năng mẫu cán trong công việc và với thái độ công
tâm, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Nhà môi giới không
được xúi dục khách hàng mua, bán chứng khoán để kiếm hoa hồng, mà nên
đưa ra những lời khuyên hợp lý để hạn chế đến mức thấp nhất về thiệt hại cho
khách hàng.
Kỹ năng của người môi giới chứng khoán được thể hiện trên các khía
cạnh.
Kỹ năng truyền đạt thông tin: Phẩm chất hay thái độ của người môi giới
đối với công việc, với bản thân và với khách hàng được truyền đạt rõ ràng tới
hầu hết các khách hàng mà người môi giới thực hiện giao dịch. Để thành công
trong việc bán hàng (cung ứng dịch vụ mua, bán) người môi giới phải đặt
khách hàng lên trên hết và doanh thu của mình là yếu tố thứ yếu. Đây là điểm
then chốt trong hoạt động dịch vụ tài chính và phải được thể hiện ngay từ khi
tiếp xúc với khách hàng.
Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: Có nhiều phương pháp để tìm kiếm khách
hàng, nhưng tựu chung có thể được gộp vào 6 phương cách sau: những đầu
mối được gây dựng từ công ty hoặc các tài khoản chuyển nhượng lại; những
lời giới thiệu khách hàng; mạng lưới kinh doanh; các chiến dịch viết thư; các
cuộc hội thảo; gọi điện làm quen.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
12
Kỹ năng khai thác thông tin: một trong những nguyên tắc trong nghề
môi giới là phải tìm hiểu khách hàng, biết được khả năng tài chính, mức độ
chấp nhận rủi ro của khách hàng. Ngoài ra nó còn giúp cho nhà môi giới tăng
được khối lượng tài sản quản lý, có chiến lược khách hàng thích hợp.
1.2.1.2/ Nghiệp vụ tự doanh
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng
khoán cho mình. Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua cơ
chế giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC. Tại một số thị trường vận
hành theo cơ chế khớp giá (quote driven) hoạt động tự doanh của CTCK được
thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này, CTCK đóng vai trò
là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của
một số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách
hàng để hưởng chênh lệch giá.
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính
công ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ
này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới chứng khoán, vừa phục vụ
lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì
vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện
giao dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty. Do đó, luật pháp của các
nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới và tự doanh,
CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh
cho mình. Thậm chí luật pháp một số nước còn quy định có 2 loại hình
CTCK là công ty môi giới chứng khoán chỉ làm chức năng môi giới và
CTCK có chức năng tự doanh.
Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh
cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh CTCK kinh
doanh bằng chính nguồn vốn của công ty. Vì vậy, CTCK đòi hỏi phải có
nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng
phân tích và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
13
đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trường.
Yêu cầu đối với CTCK
Tách biệt quản lý: Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự
doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt
động. Sự tách biệt này bao gồm tách biệt về: yếu tố con người; quy trình
nghiệp vụ; vốn và tài sản của khách hàng và công ty.
Ưu tiên khách hàng: CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách hàng
khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của
khách hàng phải được sử lý trước lệnh tự doanh của công ty. Nguyên tắc này
đảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán.
Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường
nên các CTCK có thể dự đoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua
hoặc bán tranh của khách hàng nếu không có nguyên tắc trên.
Góp phần bình ổn thị trường: Các CTCK hoạt động tự doanh nhằm góp
phần bình ổn giá cả thị trường. Trong trường hợp này, hoạt động tự doanh
được tiến hành bắt buộc theo luật định. Luật các nước đều quy định các
CTCK phải dành một tỷ lệ % nhất định các giao dịch của mình (ở Mỹ là 60%)
cho hoạt động bình ổn thị trường. Theo đó, các CTCK có nghĩa vụ mua vào
khi giá chứng khoán giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng lên nhằm giữ
giá chứng khoán ổn định.
Hoạt động tạo thị trường: Khi được phát hành, các chứng khoán mới
chưa có thị trường giao dịch. Để tạo thị trường cho các chứng khoán này,
các CTCK thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bán chứng khoán, tạo
tính thanh khoản trên thị trường cấp hai. Trên những TTCK phát triển, các
nhà tạo lập thị trường (Market - Makers) sử dụng nghiệp vụ mua bán chứng
khoán trên thị trường OTC để tạo thị trường. Theo đó, họ liên tục có những
báo giá để mua hoặc bán chứng khoán với các nhà kinh doanh chứng khoán
khác. Như vậy, họ sẽ duy trì một thị trường liên tục đối với chứng khoán
mà họ kinh doanh.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp GVHD: Ths.Lª Trung Thµnh
Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn §øc Long – TTCK 44
14
Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh:
Giao dịch gián tiếp: Các CTCK đặt các lệnh mua và bán chứng khoán
trên Sở giao dịch, lệnh của họ có thể thực hiện với bất kỳ khách hàng nào
không dược xác định trước.
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai công ty chứng khoán hay
giữa CTCK với một khách hàng thông qua thương lượng. Đối tượng của các giao
dịch trực tiếp là các loại chứng khoán đăng ký giao dịch ở thị trường OTC.
1.2.1.3/ Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng,
đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK tư vấn cho đợt phát hành và
thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây là nghiệp vụ
bảo lãnh phát hành của các CTCK và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá
cao trong tổng doanh thu của các CTCK.
Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng
bảo lãnh (sau đây gọi tắt là tổ chức bảo lãnh - TCBL) giúp tổ chức phát hành
thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối
chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi
phát hành. Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh phát hành không chỉ có các CTCK
mà còn bao gồm các định chế tài chính khác như ngân hàng đầu tư, nhưng
thông thường việc CTCK nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việc
phân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo
lãnh phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển
phan phối chứng khoán cho các CTCK tự doanh hoặc các thành viên khác.
Hoạt động bảo lãnh phát hành của CTCK được thể hiện trên sơ đồ 1 – 1.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét