e. Hệ thống nhà máy May
- Năng lực sản xuất : 20 triệu sản phẩm/năm
- Sản phẩm: Polo shirts, T-shirts, quần áo thể thao, quần áo lót, quần áo mặc nhà, hàng quà
tặng, hàng đồng phục ….
3. Định hướng phát triển
3.1. Mục tiêu chủ yếu của Công ty: nhằm huy động và sử dụng vốn có hiệu quả trong hoạt
động sản xuất kinh doanh về sản phẩm dệt, may mặc và các lĩnh vực khác nhằm mục tiêu
thu lợi nhuận tối đa; tạo việc làm ổn định cho người lao động; tăng cổ tức cho các cổ đông;
đóng góp cho ngân sách nhà nước và phát triển Công ty.
3.2. Chiến lược phát triển trung và dài hạn
Tập trung các nguồn lực để phát triển ngành nghề truyền thống: dệt – may về chất lượng
sản phẩm, công nghệ sản xuất và dịch vụ khách hàng …., đồng thời tối ưu hóa quỹ đất
thuộc quyền khai thác, quản lý của Công ty.
II. BÁO CÁO CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
1. Những nét nổi bật của kết quả hoạt động trong năm (Lấy theo báo cáo tài chính hợp
nhất)
- Doanh thu thuần: 1.126.093.301.070 đạt 94% so với kế họach năm 2009.
- Lợi nhuận sau thuế: 47.411.292.468 đạt 79% so với kế họach 2009
- Lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ VND 45.212.595.624 đạt 108 % so với kế họach 2009
Kết quả thực hiện kế hoạch theo Nghị quyết ĐHCĐ 2009
Tổng nguồn vốn cuối năm đạt 1.705.543.443.481 đồng trong đó vốn chủ sở hữu là
525,246,936,066 đồng chiếm khỏang 31% tổng nguồn vốn. Trong năm 2009 công ty đã
thực hiện tăng vốn điều lệ từ 241.839.200.000 đồng lên 434.382.430.000 đồng như hiện
nay.
2. Tình hình thực hiện 2009 so với thực hiện năm 2008 (tình hình tài chính và lợi nhuận so
với năm trước)
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ trong năm 2009 vượt năm trước 10%;
lợi nhuận sau thuế TNDN của công ty mẹ vượt năm trước 1.460%, điều này cho thấy công
ty mẹ hoạt động hiệu quả, mặc dù trong năm 2009 là năm suy thóai kinh tế tòan cầu, Việt
Nam nói chung và Công ty Thành Công nói riêng cũng bị ảnh hưởng về thị phần xuất khẩu
ở các nước Mỹ, Nhật bản, và Châu Âu. Bên cạnh đó, Tổng lợi nhuận sau thuế TNDN của
cả tập đòan Thành Công thấp hơn so với kế họach đề ra 21%, điều này cho thấy hoạt động
từ các công ty con trong năm 2009 chưa có hiệu quả.
3. Những thay đổi chủ yếu trong năm
- Tháng 2 năm 2009, Nhà máy sợi 4 với 60.000 cọc đã hòan thành đưa vào sử dụng với
công suất tăng từ 67 tấn/ tháng lên 800 tấn/tháng
- Tháng 3 năm 2009 và tháng 11 Năm 2009 đã phát hành hai đợt cổ phiếu riêng lẻ cho cổ
đông chiến lược E-Land Asian Holdings Singapore, tăng vốn điều lệ công ty lên 434 tỷ
đồng .
- Theo định hướng chiến lược trên cở sở duy trì và phát triền ngành nghề truyền thống Dệt
may, bên cạnh đó Công ty đang tập trung phát triển hệ thống bán lẻ và phát triển các dự án
Bất động sản như sau:
* Thành Công tower 1 : 9.898 m2
Địa điểm : Phường Tây Thạnh –Quận Tân phú
Thời gian dự tính cho dự án : khỏang 24 tháng
Lọai hình phát triển : Khu dân cư
* Dự án TC3 : 13.178 m2 dự án
Địa điểm : Quận 4
Thời gian dự tính cho dự án : khỏang 24 tháng
Lọai hình phát triển : Khu dân cư và thương mại
4. Kế hoạch năm 2010
4.1. Kế hoạch kinh doanh
Với mục tiêu tiếp tục duy trì những khách hàng truyền thống, đồng thời phát triển khách
hàng mới ở thị trường Nhật, Công ty đã có kế hoạch nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng
sản lượng sản xuất, đặc biệt đối với Xưởng Sợi 3,4. Bên cạnh đó, với việc xác định thị
trường nội địa có nhiều tiềm năng, Công ty đang triển khai kế hoạch tập trung vào thị
trường này. Năm 2010, kế hoạch kinh doanh cụ thể như sau:
- Doanh thu thuần: 1,299,130,200,000 VND
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh: 189,216,324,808 VND
- Lợi nhuận trước thuế: 124,198,931,776 VND
- Lợi nhuận sau thuế : 108,674,065,304 VND
4.2. Kế hoạch phân phối lợi nhuận
- Dự kiến vốn điều lệ đến 31/12/2010:447.413.902.000 đồng.
- Hình thức chi trả cổ tức : Dự kiến năm 2010 Công Ty chia cổ tức với hình thức tiền mặt:
cơ cấu, cách thức sẽ do HĐQT quyết định căn cứ vào tình hình thực tế.
III. BÁO CÁO CỦA BAN GIÁM ĐỐC
1. Báo cáo tình hình tài chính (số liệu hợp nhất)
1.1. Cơ cấu tài sản và nguồn vốn
1.2. Khả năng sinh lời
1.3. Khả năng thanh toán
Các chỉ số về khả năng thanh toán trong năm 2009 đều tăng so với năm 2008 cho thấy tính
thanh khoản được cải thiện.
2. Giá trị cổ phiếu: Giá trị sổ sách của cổ phiếu 12.120
3. Những tiến bộ công ty đã đạt được
3.1. Những cải tiến về cơ cấu tổ chức, chính sách, quản lý
- Bố trí lại nhân sự và phân công công việc phù hợp với năng lực để phát triển tối đa khả
năng.
- Tăng cường giao quyền đối với cán bộ quản lý nhằm tạo sự chủ động trong giải quyết
công việc, nâng cao ý thức trách nhiệm.
- Tăng cường đào tạo kiến thức tài chính, quản trị cho cán bộ quản lý nhằm cải tiến cách
thức làm việc phù hợp định hướng phát triển của Công ty.
- Tăng cường hợp tác để phát triển kỹ thuật sản xuất, mời các chuyên gia nước ngoài đánh
giá và góp ý cải tiến cách thức quản lý sản xuất nhằm nâng cao sản lượng sản xuất.
3.2. Các biện pháp kiểm soát
- Công ty đã áp dụng công cụ Thẻ cân bằng điểm (BSC) để xây dựng kế hoạch cho Công ty
cũng như từng Đơn vị
- Ứng dụng hệ thống phần mềm ERP để minh bạch hóa các báo cáo tài chính cũng như
giảm thiểu thời gian thực hiện các báo cáo liên quan đến Kế toán và kho.
4. Kế hoạch phát triển trong tương lai
- Tập trung để mở rộng khách hàng xuất khẩu, tăng tỉ lệ hàng FOB lên 85% so với CMPT
là 15%
- Phát triển thị trường nội địa thương hiệu TCM thông qua các kênh phân phối như hệ
thống siêu thị, mở thêm cửa hàng ở các thành phố lớn
- Liên tục cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm
- Giảm thiểu thời gian phát triển sản phẩm mới
- Đầu tư máy chải kỹ cho nhà máy sợi 4 để tăng sản lương sợi CM
- Tìm kiếm đối tác để phát triển các dự án BĐS
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong giao dịch kinh doanh của công
ty THÀNH CÔNG. Phân tích các phương án rủi ro, so sánh và chọn một
số phương án phóng ngừa và quản trị rủi ro trong hiện tại và tương lai.
I. Nhận định về các rủi ro có thể gặp phải dưới góc độ là 1 nhà xuất khẩu
Trong quá trình thương lượng, ký kết hợp đồng, thực hiện sản xuất, giao hàng và nhận
thanh tóan vói các đối tác nước ngòai, công ty có thể phải đối mặt với các rủi ro sau đây:
1.1. RR về vận tải: sơ đồ sự chuyển nhượng rủi ro.
• Nhóm E, chỉ có 1 điều kiện EXW (Ex Works) là giao hàng tại xưởng. Đối với điều
kiện này người mua chịu trách nhiệm làm thủ tục hải quan ở nước xuất khẩu và người bán
hết mọi nghĩa vụ sau khi giao hàng tại kho của mình.
• Nhóm F, gồm có 3 điều kiện: FCA (Free carrier): giao cho người vận tải; FAS (Free
alongside ship): giao dọc mạn tàu; FOB (Free on board): giao lên tàu. Đối với điều kiện
của nhóm này, người bán làm thủ tục hải quan nhưng không trả chi phí vận tải chính và địa
điểm chuyển rủi ro về hàng hóa là sau khi giao hàng ở nước xuất khẩu.
• Nhóm C, gồm có 4 điều kiện: CFR (cost and freight): Tiền hàng và cước phí; CIF
(Cost, insurance and freight): tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí; CPT (Carriage paid to):
cước trả tới; CIP (Carriage and Insurance paid to): cước và bảo hiểm trả tới. Đối với các
điều kiện nhóm này người bán làm thủ tục hải quan, chịu chi phí vận tải chính, mua bảo
hiểm (đối với điều kiện CIF và CIP). Địa điểm chuyển rủi ro về hàng hóa là sau khi giao
hàng ở nước xuất khẩu.
• Nhóm D, gồm có 5 điều kiện: DAF (Delivered at frontier): giao tại biên giới; DES
(Delivered ex ship): giao tại tàu; DEQ (Deliverd ex quay): giao tại cầu cảng; DDU
(delivered duty unpaid): giao tại nơi đến chưa nộp thuế. DDP (Delivered duty paid): giao
hàng tại nơi đến đã nộp thuế. Đối với các điều kiện nhóm này người bán chịu chi phí vận
tải chính (trừ điều kiện DAF) và địa điểm chuyển rủi ro về hàng hóa là sau khi giao hàng ở
nước người nhận hàng.
1.2. Rủi ro tỷ giá:
Rủi ro phát sinh từ sự biến động tỷ giá, hay giá cả các loại hàng hoá trên thị trường. Hầu
hết các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ tập trung kinh doanh một vài loại mặt hàng,
điều này tạo nên rủi ro khá lớn khi giá cả mặt hàng đó biến động, nhất là trong tình hình
lạm phát và khủng hoảng kinh tế hiện nay. Nhiều khi doanh nghiệp vừa ký hợp đồng bán
hàng xong, giá cả biến động tăng, tiền thu về không còn đủ để mua lại số hàng tương tự
vừa bán.
- Tiền thu về sau khi XK nhỏ hơn tổng chi phí đã bỏ ra
- Tỷ giá tăng, người mua sợ lỗ không chịu nhận hàng khi hàng đã chuyển đến cảng nhà nhập
khẩu. Khi đó nhà NK thường bịa các lý do hàng kém phẩm chất, hư hại ko đúng với hợp
đồng để đòi giảm giá hoặc có thể kéo dài thời gian trả tiền…
1.3. Rủi ro khi thanh tóan:
1.3.1.Rủi ro khi áp dụng hình thức tín dụng chứng từ
L/C được coi là phương pháp an tòan nhất đối với nhà XK tuy nhiên vẫn có nhiều
trường hợp:
- Giả mạo L/C
- Sửa chữa L/C nhiều lần làm kéo dài thời gian trả tiền, ảnh hưởng đến việc sản xuất
gây khó khăn cho nhà XK
- Người mua phá sản hoặc ngân hàng chấp nhận chi trả L/C phá sản. Ví dụ: đã có
trường hợp 1 nhà XK sau khi giao hàng đầy đủ và đến hạn được thanh tóan thì nhận thông
tin là công ty kí kết hợp đồng XNK với mình bị phá sản nên chỉ được thanh tóan 50% giá
trị lô hàng (tiền lấy từ tài sản bảo đảm của cty đó) 50% còn lại chi trả cho người lao động,
thuế, các khỏan nợ khác của nhà NK ở nước NK. Một trường hợp khác là ngân hàng chấp
nhận thanh tóan L/C bị phá sản ví dụ như trong giai đọan khủng hỏang vừa qua 1 lọat ngân
hàng ở nước ngòai phá sản.
- Sự không phù hợp giữa L/C và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà nhà xuất
khẩu không phát hiện ra được mà cứ tiếp tục giao hàng dẫn đến nhà xuất khẩu sẽ khó đòi
được tiền hoặc ngược lại nếu từ chối giao hàng thì vi phạm hợp đồng.
1.3.2 Rủi ro khi sử dụng các hình thức T/T, ghi sổ, nhờ thu trơn, nhờ thu kèm chứng từ
Rủi ro lớn đối với nhà XK vì hàng hóa đã giao rồi, bộ chứng từ thương mại lẫn tài
chính cũng giao rồi (T/T, ghi sổ, nhờ thu trơn) hoặc chưa giao (D/A) , nhà XK mất quyền
kiểm sóat lô hàng, việc thanh tóan phụ thuộc vào thiện chí của người mua.
• Hình thức chuyển tiền remittance
Trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, theo phương thức này, nhà nhập khẩu yêu
cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu (người hưởng lợi)
ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do nhà nhập khẩu quy định.
Phương thức chuyển tiền có thể là bộ phận của phương thức thanh toán khác như
phương thức nhờ thu, tín dụng dự phòng, tín dụng chứng từ… nhưng cũng có thể là một
phương thức thanh toán độc lập.
Thực tế, nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu sẽ không chuyển tiền hàng cho nhà xuất
khẩu cho đến khi nhận đầy đủ hàng. Đây là một lợi thế của nhà nhập khẩu nhưng lại là rủi
ro của nhà xuất khẩu khi hàng hóa đã được chuyển giao nhưng tiền hàng không được thanh
toán, bị chậm trễ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.
• Phương thức ghi sổ open account
Đây thực chất là một hình thức mua bán chịu. Phương thức này áp dụng trong mua
bán hàng hóa quốc tế như sau: Nhà xuất khẩu (người ghi sổ) sau khi hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng của mình quy định trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ mở một quyển
sổ nợ để ghi nợ. Nhà nhập khẩu (người được ghi sổ), bằng một đơn vị tiền tệ nhất định và
đến từng định kỳ nhất định do hai bên thỏa thuận, sử dụng phương thức chuyển tiền thanh
toán cho người ghi sổ.
Phương thức này hoàn toàn có lợi cho nhà nhập khẩu (người được ghi sổ). Nhà xuất
khẩu sẽ phải gánh chịu rủi ro khi bên nhập khẩu không thanh toán hoặc chậm trễ thanh
toán hoặc thanh toán không đầy đủ.
• Phương thức nhờ thu trơn clean collection
Là một trong các phương thức thanh toán áp dụng trong hợp mua bán hàng hóa quốc
tế mà trong đó nhà xuất khẩu ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán
mà không kèm với điều kiện chuyển giao chứng từ.
Nhà xuất khẩu giao hàng và gửi trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Như vậy thông
thường hoạt động này diễn ra trước thời điểm thanh toán. Đây có thể là một bất lợi cho nhà
xuất khẩu, nhà nhập khẩu chưa phải thanh toán tiền hàng nhưng đã nắm giữ được chứng từ
để nhận hàng từ nhà chuyên chở nhưng sau đó cố ý chiếm dụng vốn, thanh toán chậm,
thiếu, từ chối thanh toán. Ngân hàng chỉ là một tổ chức trung gian thu hộ và có thể bị nhà
nhập khẩu từ chối.
• Phương thức nhờ thu có kèm theo chứng từ
Là một trong các phương thức thanh toán áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế mà trong đó nhà xuất khẩu ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ
thanh toán với điều kiện sẽ giao chứng từ nếu nhà nhập khẩu thanh toán, chấp nhận thanh
toán hoặc thực hiện các điều kiện khác đã quy định.
Nhà xuất khẩu không giao trực tiếp chứng từ cho nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu phải trả
tiền thì Ngân hàng mới giao chứng từ để mang chứng từ đi nhận hàng. Như vậy, phương
thức này bảo vệ được lợi ích của nhà xuất khẩu, tránh được tình trạng bị nhà nhập khẩu
chiếm dụng vốn, chậm thanh toán, thanh toán không đầy đủ hoặc từ chối thanh toán.
Tuy nhiên với hình thức chứng từ đổi lấy chấp nhận thanh tóan D/A, khi đến hạn
thanh tóan, nhà nhập khẩu có thể viện lý do tỷ giá, khó khăn, thiếu vốn,… để trì hõan việc
thực hiện nghĩa vụ của mình gây khó khăn cho phía xuất khẩu.
4. Rủi ro thiếu vốn sản xuất kinh doanh trong quá trình chờ thanh tóan, hoặc trong quá
trình sản xuất hàng hóa theo hợp đồng có thể bị thiếu vốn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét