hợp với điều kiện của cách mạng nước ta. Hồ Chí Minh là nhà mác-xít tỉnh
táo và sáng suốt, biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng văn hoá
phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp của cách mạng Việt Nam.
+ Văn hoá phương Tây:
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hoá dân chủ và
cách mạng phương Tây như: tư tưởng tự do, bình đẳng trong Tuyên ngôn
nhân quyền và dân quyền của Đại cách mạng Pháp 1791, tư tưởng dân chủ,
về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn
độc lập của Mỹ 1776. Trước khi ra nước ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ
Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái. Lần đầu sang Pháp Hồ Chí Minh đã thể hiện
bản lĩnh, nhân cách phẩm chất cao thượng, tư duy độc lập tự chủ. Người đã
nhìn thấy mặt trái của “lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái. Người cũng tiếp
thu tư tưởng của những nhà Khai sáng Pháp như Voltaire, Rousso,
Montesquieu.
Thiên chúa giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Hồ Chí Minh quan
niệm Tôn giáo là văn hoá. Điểm tích cực nhất của Thiên chúa giáo là lòng
nhân ái. Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hoá Đông - Tây để
phục vụ cho cách mạng Việt Nam. Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những
người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của
các đời trước để lại.”
c) Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận
của tư tưởng Hồ Chí Minh: chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực
tiếp, quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người
góp phần làm phong phú thêm CNMLN ở thời đại các dân tộc bị áp bức
vùng lên giành độc lập, tự do. “Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta… là
mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ
nghĩa xã hội…”. Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện:
- Quyết định bản chất thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí
Minh.
- Quyết định phương pháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, là tư
tưởng Việt Nam thời Hiện đại.
Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin ở Hồ Chí Minh nổi
lên một số điểm đáng chú ý:
Một là, khi ra đi tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc đã có một vốn
học vấn chắc chắn, một năng lực trí tuệ sắc sảo, Người đã phân tích, tổng kết
các phong trào yêu nước Việt Nam chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX; Người tự hoàn thiện vốn văn hoá, vốn chính trị, vốn sống thực tiễn
phong phú nhờ đó Bác đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin như một lẽ tự nhiên
“tất yếu khách quan và hợp với quy luật”. Chủ nghĩa Mác-Lênin là bộ phận
văn hoá đặc sắc nhất của nhân loại: tinh tuý nhất, cách mạng nhất, triệt để
nhất và khoa học nhất
Hai là, Nguyễn Ái Quốc đến với CNMLN là tìm con đường giải
phóng cho dân tộc. Người hồi tưởng lần đầu tiếp xúc với chủ nghĩa Lênin,
“khi ấy ngồi một mình trong phòng mà tôi nói to lên như đang đứng trước
đông đảo quần chúng: hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ, đây là cái cần thiết
cho chúng ta, đây là con đường giải phóng cho chúng ta.”
Ba là, Người vận dụng CNMLN theo phương pháp mác-xít và theo
tinh thần phương Đông, không sách vở, không kinh viện, không tìm kết
luận có sẵn mà tự tìm ra giải pháp riêng, cụ thể cho cách mạng Việt
Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tư tưởng
Hồ Chí Minh.
d) Nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh
+ Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, có óc phê phán
tinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc cách mạng
lớn trên thế giới.
+ Người không ngừng học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức, vốn kinh
nghiệm đấu tranh của các phong trào giải phóng dân tộc. Nhân cách, phẩm
chất, tài năng và trí tuệ của Hồ Chí Minh đã giúp Người đến với chủ nghĩa
Mác - Lênin và tiếp thu được các giá trị văn hoá nhân loại.
+ Bác có tâm hồn của một người yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ cộng
sản nhiệt thành cách mạng; một trái tim yêu thương nhân dân, thương người
cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, vì hạnh phúc
của nhân dân. Bác Hồ từ một người tìm đường cứu nước đã trở thành người
dẫn đường cho cả dân tộc đi theo. Nhân cách, phẩm chất, tài năng và trí tuệ
của Hồ Chí Minh đã tác động rất lớn đến việc hình thành và phát triển tư
tưởng của Người.
3. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
a. Từ 1890-1911: thời kỳ hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng
cách mạng. Bác tiếp thu truyền thống dân tộc, hấp thụ vốn văn hoá Quốc
học và Hán học, tiếp xúc với văn hoá phương Tây, chứng kiến cuộc sống
khổ cực của đồng bào. Bác nảy ý định đi tìm đường cứu nước, sang phương
Tây tìm hiểu xem thế giới làm gì rồi trở về giúp đồng bào mình.
b. Từ 1911-1920: thời kỳ tìm tòi con đường cứu nước giải phóng
dân tộc. Năm 1911, Bác sang Pháp, sau đó sang Anh, Mỹ. Năm 1913,
Người từ Mỹ quay lại Anh tham gia công đoàn thuỷ thủ Anh. Năm 1917,
Người từ Anh lại sang Pháp vào lúc nổ ra cách mạng Tháng Mười Nga, Pa-ri
sôi động tìm hiểu cách mạng tháng Mười. Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc ra
nhập Đảng xã hội Pháp. Tháng 8/1919, Bác gửi bản yêu sách của nhân dân
An-nam đến hội nghị Véc-xay. Đại hội XVIII Đảng xã hội Pháp thảo luận
vấn đề gia nhập Quốc tế III, ngày 30/12/1920 Hồ Chí Minh biểu quyết tán
thành Đảng cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản. Giai đoạn này đánh
dấu sự phát triển vượt bậc thế giới quan của Hồ Chí Minh từ giác ngộ chủ
nghĩa dân tộc đến giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ chiến sĩ chống thực dân
trở thành chiến sĩ cộng sản Việt Nam.
c. Từ 1921-1930: thời kỳ hình thành cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh
về con đường cách mạng Việt Nam: vừa khoa học vừa thực tiễn. Hồ Chí
Minh đã hoạt động thực tiễn và lý luận phong phú trên địa bàn Pháp như:
tích cực hoạt động trong ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng xã hội Pháp,
xuất bản tờ Le Paria nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam (từ
1921-1923). Năm 1923-1924, tại Liên-Xô, dự đại hội Quốc tế Nông dân, dự
đại hội V Quốc tế cộng sản. Năm 1924, Bác về Quảng Châu, tổ chức Việt
Nam thanh niên cách mạng, mở lớp huấn luyện cán bộ. Năm 1925, tác phẩm
“Bản án chế độ thực dân Pháp” được xuất bản tại Pa-ri. Năm 1927, Bác xuất
bản tác phẩm “Đường Kách Mệnh”. Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì
hội nghị hợp nhất và thành lập Đảng cộng sản Việt Nam. Người trực tiếp
thảo văn kiện “Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng”. Ngày
3/2/1930, Hồ Chí Minh trở thành nhà tư tưởng theo đúng nghĩa. Tư tưởng
Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam được hình thành cơ bản. Có thể tóm
tắt nội dung chính của những quan điểm lớn, độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí
Minh về con đường cách mạng Việt Nam như sau:
- Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đi theo con
đường cách mạng vô sản.
- Cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có quan hệ
mật thiết với nhau.
- Cách mạng thuộc địa trước hết là một cuộc “dân tộc cách mạng”,
đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập, tự do.
- Giải phóng dân tộc là việc chung của cả dân chúng; phải tập hợp lực
lượng dân tộc thành một sức mạnh to lớn chống đế quốc và tay sai.
- Phải đoàn kết và liên minh với các lực lượng cách mạng quốc tế.
- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, phải đoàn kết dân tộc, phải
tổ chức quần chúng, lãnh đạo và tổ chức đấu tranh bằng hình thức và khẩu
hiệu thích hợp.
- Cách mạng trước hết phải có đảng lãnh đạo, vận động và tổ chức
quần chúng đấu tranh. Đảng có vững cách mạng mới thành công…
Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh
trong những năm 20 của thế kỷ XXđược truyền bá vào Việt Nam, làm cho
phong trào dân tộc và giai cấp ở nước ta là phong trào tự giác.
d. Từ 1930-1945: thời kỳ thử thách, kiên trì giữ vững quan điểm,
nêu cao tư tưởng độc lập, tự do và quyền dân tộc cơ bản. Đây là thời kỳ
thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh cả về phương diện lý luận và phương
diện thực tiễn. Khẳng định quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường cách
mạng Việt Nam là đúng đắn. Thời kỳ này Hồ Chí Minh và Quốc tế cộng sản
mâu thuẫn trong nhận thức về liên minh các lực lượng cách mạng, Hồ Chí
Minh đã giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng
“tả” của Quốc tế cộng sản, lãnh đạo cách mạng Việt Nam thắng lợi. Điều
này phản ánh quy luật của cách mạng Việt Nam, giá trị và sức sống của tư
tưởng Hồ Chí Minh.
e. Từ 1945-1969: thời kỳ phát triển mới về tư tưởng kháng chiến và
kiến quốc.
Đây là thời kỳ mà Hồ Chí Minh cùng trung ương Đảng lãnh đạo nhân
dân ta vừa tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ
dân chủ nhân dân mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ; tiến hành cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh có bước phát triển mới:
- Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc, tiến hành kháng chiến
kết hợp với xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến hành đồng thời hai
chiến lược cách mạng khác nhau.
- Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào
sức mình là chính.
- Xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân,
do dân, vì dân.
- Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền…
Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành trên cơ sở khoa học và cách mạng,
có quá trình trưởng thành liên tục trong đấu tranh cách mạng chống kẻ thù,
chống nhận thức chưa phù hợp giữa trong nước và quốc tế về cách mạng
Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt
Nam trong thời đại mới, là nhọn cờ thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong
cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một chân lý, có ý nghĩa lớn trong những năm đầu
thế kỷ XXI này.
II. ĐỊNH NGHĨA, ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU, Ý NGHĨA HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1. Định nghĩa và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
a) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu
sắc về những vấn đề cơ bản của quá trình cách mạng Việt Nam, từ cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả sự vận
dụng sáng tạo và phát triển CNMLN vào điều kiện cụ thể của nước ta;
đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người .
+ Thực chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống lý luận phản ánh
những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam.
+ Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những vấn đề có liên quan
đến quá trình phát triển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách
mạng xã hội chủ nghĩa.
+ Chỉ ra nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh: đó là CNMLN,
truyền thống dân tộc, trí tuệ thời đại.
+ Mục tiêu của tư tưởng Hồ Chí Minh là giải phóng giai cấp, giải
phóng dân tộc, giải phóng con người.
b) Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam, đáng chú ý là tư tưởng về:
- Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
- Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại.
- Quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân.
- Quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
- Phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho nhân dân.
- Xây dựng đạo đức cách mạng.
- Chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.
- Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Theo chương trình của bộ Giáo dục Đào tạo, môn tư tưởng Hồ Chí
Minh giới thiệu những vấn đề thuộc nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh:
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng
dân tộc.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường quá độ lên CNXH.
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam và về Nhà
nước của dân, do dân, vì dân.
5. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, nhân văn, văn hoá.
2. Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp và ý nghĩa học tập tư
tưởng Hồ Chí Minh
a) Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu của bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh là nghiên
cứu hệ thống các quan điểm, lý luận của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt
Nam trong thời đại mới mà nền tảng là độc lập tự do, nghiên cứu mối quan
hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn của hệ thống quan điểm Hồ Chí
Minh, và quá trình hiện thực hoá tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống xã
hội hiện nay.
+ Nhiệm vụ của môn tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Tìm hiểu và giải thích rõ nguồn gốc, quá trình hình thành và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Chỉ ra bản chất cách mạng và khoa học của hệ thống tư tưởng Hồ
Chí Minh.
- Làm rõ vai trò nền tảng, kim chỉ nam hành động của tư tưởng Hồ
Chí Minh đối cách mạng Việt Nam và giá trị to lớn của nó trong kho tàng lý
luận thế giới.
b) Phương pháp nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở nắm vững phép duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng nguyên lý kế
thừa và phát triển sáng tạo.
- Vận dụng quan điểm toàn diện và hệ thống, kết hợp khái quát và mô
tả, phân tích và tổng hợp, các phương pháp liên ngành khoa học xã hội và
nhân văn.
- Học tập phương pháp của Hồ Chí Minh: gắn lý luận với thực tiễn
trong quá trình cách mạng Việt Nam; lý trí cách mạng với tình cảm cao đẹp.
c) Ý nghĩa học tập tư tưởng Hồ Chí Minh
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam. Học
tập tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải:
- Nắm vững nội dung cốt lõi của hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, trang bị
thế giới quan cách mạng theo tư tưởng của Hồ Chí Minh.
- Học tập nhân sinh quan cách mạng của Hồ Chí Minh: đạo đức, nhân
cách mẫu mực của tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam xây
dựng mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Đối với thanh niên, học sinh, sinh viên cần coi trọng giáo dục chính
trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng…Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách
mạng cho họ, đào tạo họ thành những người vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc quan trọng và rất cần thiết
CHƯƠNG II
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
Sơ lược quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về vấn đề dân tộc
Dân tộc là vấn đề rộng lớn, bao gồm những quan hệ về chính trị, kinh
tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hoá giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc
và bộ tộc.
- Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dân tộc là sản phẩm của
quá trình phát triển lâu dài của lịch sử.
+ Mác-Ăngghen đã đặt nền móng tư tưởng cho việc giải quyết vấn đề
dân tộc một cách khoa học.
Hình thức cộng đồng tiền dân tộc như thị tộc, bộ tộc, bộ lạc. Sự phát triển
của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự ra đời của các dân tộc tư bản chủ nghĩa.
Chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đế quốc
thi hành chính sách vũ trang xâm lược, cướp bóc, nô dịch các dân tộc nhỏ từ
đó xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa. Mác và Ăngghen nêu lên quan điểm
cơ bản có tính chất phương pháp luận để nhận thức và giải quyết vấn đề
nguồn gốc, bản chất của dân tộc, những quan hệ cơ bản của dân tộc, thái độ
của giai cấp công nhân và Đảng của nó về vấn đề dân tộc.
+ Lênin đã phát triển quan điểm này thành hệ thống lý luận toàn diện và sâu
sắc về vấn đề dân tộc, làm cơ sở cho cương lĩnh, đường lối, chính sách của
các Đảng Cộng sản về vấn đề dân tộc. Trong đó đáng chú ý là các vấn đề:
Vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề dân tộc thuộc địa
Khi các nước đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường,
chúng thực hiện sự áp bức về chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hoá
đối với các nước bị xâm chiếm- thì vấn đề dân tộc trở thành vấn đề dân tộc
thuộc địa.
Vấn đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng
dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc
lập dân tộc, xoá bỏ ách áp bức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân
tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập.
Vấn đề dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại cách mạng
vô sản đầu thế kỷ XX có mấy luận điểm cơ bản sau:
1) Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân
tộc.
+ Tất cả các dân tộc trên thế giới phải được độc lập hoàn toàn và thật sự.
Độc lập trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, toàn vẹn
lãnh thổ. Mọi vấn đề của chủ quyền quốc gia do dân tộc đó tự quyết định.
Theo Hồ Chí Minh độc lập tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc
địa và theo nguyên tắc: Nước Việt Nam là của người Việt Nam, do dân tộc
Việt Nam quyết định, nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất cứ sự can
thiệp nào từ bên ngoài. Trong nền độc lập đó mọi người dân đều ấm no, tự
do, hạnh phúc, nếu không độc lập chẳng có nghĩa gì. Hồ Chí Minh nói:
“chúng ta đã hy sinh, đã giành được độc lập, dân chỉ thấy giá trị của độc lập
khi ăn đủ no, mặc đủ ấm”. Tư tưởng này thể hiện tính nhân văn cao cả và
triệt để cách mạng của Hồ Chí Minh. Độc lập tự do là quyền tự nhiên của
dân tộc, thiêng liêng và vô cùng quý giá. Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với
Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền
của Pháp 1791, Người đã khái quát chân lý: “Tất cả các dân tộc trên thế giới
sinh ra đều có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền
sung sướng và quyền tự do”. Trong hành trình tìm đường cứu nước cho dân
tộc khi còn ở Pháp Nguyễn Ái Quốc đấu tranh để đòi các quyền cho nhân
dân An Nam:
Một là, đòi quyền bình đẳng về chế độ pháp lý cho người bản xứ Đông
Dương như đối với châu Âu, xoá bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh, thay thế
bằng chế độ đạo luật.
Hai là, đòi quyền tự do dân chủ tối thiểu cho nhân dân, tự do ngôn luận, tự
do báo chí, hội họp, tự do cư trú Ngày 18/6/1919, Nguyễn Ái Quốc thay
mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi đến hội nghị Véc-xây bản
yêu sách của nhân dân An-nam đòi quyền bình đẳng cho dân tộc Việt Nam.
Bản yêu sách không được chấp nhận, Nguyễn Ái Quốc rút ra bài học: Muốn
bình đẳng thực sự phải đấu tranh giành độc lập dân tộc- làm cách mạng,
muốn giải phóng dân tộc chỉ có thể trông cậy vào chính mình, vào lực lượng
của bản thân mình.
Điều này thể hiện ở mục tiêu của cách mạng Việt Nam là: Đánh đổ Đế quốc
Pháp và phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập. Sau Cách mạng
Tháng 8 thành công, Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập và khẳng
định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành
một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh
thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ quyền tự do độc lập ấy”.
+ Hoà bình chân chính trong nền độc lập dân tộc để nhân dân xây dựng cuộc
sống ấm no hạnh phúc cũng là quyền cơ bản của dân tộc. Hoà bình không
thể tách rời độc lập dân tộc, và muốn có hoà bình thật sự thì phải có độc lập
thật sự. Hồ Chí Minh đã nêu: “Nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn
hoà bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để
bảo vệ độc lập và chủ quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét