Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước

Quá trình sử dụng tiền đầu tư, xét về mặt bản chất, là quá trình thực hiện
sự chuyển hoá vốn bằng tiền (vốn đầu tư) thành vốn hiện vật để tạo nên những
yếu tố cơ bản của quá trình tái sản xuất. Đó cũng chính là quá trình hoạt động
đầu tư hay quá trình đầu tư vốn.
Đầu tư trong nước, theo cách diễn đạt của Luật Khuyến khích đầu tư
trong nước năm 1994 là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam
của các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam (Điều 2 - Luật Khuyến khích đầu
tư trong nước năm 1994). Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số
03/1998/QH10 cũng có quan niệm về đầu tư trong nước tương tự.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1996, diễn đạt như sau: "là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo
quy định của luật này". Đối tượng của luật đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh
tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Đối tượng của Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước gồm: tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài (hay còn gọi là thường
trú) tại Việt Nam. Các đối tượng tham gia hoạt động đầu tư có yếu tố nước
ngoài thì có thể lựa chọn một trong hai Luật.
Tuỳ theo góc độ đề cập, hoạt động đầu tư trong nước có thể được phân
theo các tiêu thức sau:
- Theo tính chất của các đối tượng đầu tư, hoạt động đầu tư gồm:
+ Đầu tư cho đối tượng vật chất: nhà xưởng, máy móc thiết bị, công trình
hạ tầng là điều kiện tiên quyết, cơ bản làm tăng tiềm lực của nền kinh tế.
+ Đầu tư cho đối tượng tài chính: mua cổ phần, cổ phiếu là điều kiện
quan trọng để thu hút mọi nguồn vốn từ mọi tầng lớp dân cư cho đầu tư vào
các đối tượng vật chất.
Trang 5
+ Đầu tư cho đối tượng phi vật chất: tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực,. là
điều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiến hành thuận
lợi và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao.
- Theo cơ cấu tái sản xuất: hoạt động đầu tư gồm:
+ Đầu tư theo chiều rộng: là quá trình tăng quy mô đầu tư của các chủ
thể kinh doanh. Quá trình được xem xét ở hai góc độ: trên phạm vi nền kinh tế,
đó là việc thành lập doanh nghiệp mới; ở góc độ doanh nghiệp, đó là việc triển
khai dự án đầu tư mới hoặc mở rộng quy mô của các dự án hiện có. Xét trên
tổng thể, cách thứ nhất đòi hỏi vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư dài, vốn khê
đọng lâu, thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn phải lớn, tính chất kỹ
thuật phức tạp và độ thoả hiệp cao.
+ Đầu tư theo chiều sâu: là hoạt động làm tăng nguồn lực đầu tư gắn với
việc làm tăng khả năng sinh lợi của các dự án đầu tư, của các doanh nghiệp.
So với cách thứ nhất, cách thức này thường thu hút khối lượng vốn đầu tư ít
hơn, thời gian thực hiện đầu tư nhanh hơn, độ mạo hiểm thấp và khả năng thu
hồi vốn nhanh chóng.
- Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: hoạt động đầu tư có thể phân
thành:
+ Đầu tư gián tiếp: trong đó người bỏ vốn không nhất thiết tham gia trực
tiếp điều hành, quản lý quá trình thực hiện và vận hành các yếu tố đầu tư. Một
loại chủ thể thực hiện hình thức này có thể là các Chính phủ, thông qua các
chương trình tài trợ không hoàn lại hoặc có hoàn lại với lãi suất thấp của mình,
cung ứng tiền hoặc nguồn lực khác cho Chính phủ của các nước khác để các
nước đó phát triển kinh tế xã hội, điều chỉnh cơ cấu. Một loại chủ thể khác, giữ
vai trò đặc biệt quan trọng, có khi là then chốt, là các cá nhân, tổ chức mua các
loại chứng chỉ có giá trị như cổ phiếu, trái phiếu để hưởng lợi tức (còn gọi là
đầu tư tài chính).
Trang 6
+ Đầu tư trực tiếp: ở đây người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý hoặc
điều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Đầu tư trực tiếp
lại được phân thành: đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát triển.
++ Đầu tư chuyển dịch là loại đầu tư trong đó, người có tiền mua lại một
số cổ phiếu đủ lớn để nắm quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Trong
trường hợp này, việc đầu tư không làm gia tăng tài sản của doanh nghiệp, mà
chỉ làm thay đổi quyền sở hữu các cổ phần của doanh nghiệp.
++ Đầu tư phát triển là loại bỏ vốn đầu tư để tạo nên những năng lực sản
xuất phục vụ mới (cả về chất và lượng). Đây là loại đầu tư để tái sản xuất mở
rộng, là biện pháp chủ yếu để tạo việc làm cho người lao động, là tiền đề để
thực hiện đầu tư tài chính và đầu tư chuyển dịch.
- Căn cứ vào thời gian thực hiện và thời gian phát huy tác dụng, hoạt
động đầu tư có thể phân chia thành:
+ Đầu tư thương mại: là hoạt động đầu tư là thời gian thực hiện đầu tư và
hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi đủ vốn đầu tư ngắn hạn, vốn vận
động nhanh, mức độ mạo hiểm thấp do trong một thời gian ngắn, tính bất động
không cao, lại dễ dự đoán và độ chính xác của dự đoán khá cao.
+ Đầu tư sản xuất: Là loại đầu tư dài hạn, vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm,
thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, vì tính chất kỹ thuật của hoạt
động đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong
tương lai không dự đoán trước được hoặc chất lượng dự đoán khó chính xác
(về nhu cầu, giá cả đầu vào, cơ chế, chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ
thuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị ). Loại đầu tư này phải được chuẩn bị
kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của
hoạt động đầu tư trong tương lai xa, xem xét các biện pháp xử lý khi các yếu
tố bất định xảy ra để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi suất khi hoạt động đầu
tư kết thúc, khi các kết quả đầu tư đã hoạt động đến hết vòng đời của mình.
- Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: các hoạt động đầu tư
được phân thành:
Trang 7
+ Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định
+ Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sản
xuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lưu động cho các cơ
sở hiện có, duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật không thuộc các
doanh nghiệp.
Trong hai loại đầu tư đó thì đầu tư cơ bản quyết định đầu tư vận hành.
Đầu tư vận hành tạo điều kiện cho các kết quả của đầu tư cơ bản phát huy tác
dụng. Không có đầu tư vận hành thì các kết quả của đầu tư cơ bản không hoạt
động được, ngược lại, không có đầu tư cơ bản thì đầu tư vận hành chẳng để
làm gì. Đầu tư cơ bản có đặc điểm kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi vốn lớn, thời hạn
thu hồi dài. Còn đầu tư vận hành chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư,
đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư không đến nỗi phức tạp so
với đầu tư cơ bản và thời gian thu hồi vốn tương đối nhanh.
Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ở mức cần thiết, Việt
Nam cần một lượng vốn đầu tư khá lớn (thời kỳ kế hoạch 5 năm 1996-2000
vào khoảng từ 40-42 tỷ USD), trong đó hơn một nửa là đầu tư trong nước.
Nguồn vốn bên ngoài là không thể thiếu và có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là
trong thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, khi nhu
cầu đầu tư rất lớn mà nguồn tích luỹ nội địa chưa đủ đáp ứng. Trước năm
1987, trong tổng vốn huy động cho đầu tư, nguồn vốn huy động từ ngân sách
Nhà nước chiếm vị trí chủ yếu. Từ 1988 đến nay, với chính sách mở cửa, phát
triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, nền kinh tế nước ta đang từng bước
hoà nhập với khu vực và trên thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta
mở rộng dần diện huy động vốn trong nước, đồng thời thu hút thêm các nguồn
vốn đầu tư từ bên ngoài. Cho đến nay, nguồn vốn cho đầu tư ở nước ta khá
phong phú hơn trước và chủ yếu được huy động từ các nguồn chính:
* Vốn huy động trong nước:
- Vốn ngân sách tập trung: đây là nguồn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với các hoạt động đầu tư trong nước. Nguồn này hiện nay chủ yếu được
tập trung cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, đầu tư phát triển
Trang 8
một số công trình công nghiệp then chốt, bảo đảm giữ các cao điểm trong nền
kinh tế quốc dân, các công trình liên quan đến An ninh - Quốc phòng.
- Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước: nguồn vốn này luôn có vai trò
quan trọng rất lớn và có tác dụng trực tiếp nhất đối với tốc độ tăng trưởng
hàng năm tổng sản phẩm trong nước. Đây chính là nguồn vốn mà các chính
sách kinh tế vĩ mô xem là một đối tượng hàng đầu tác động vào nền kinh tế, có
vai trò rất lớn trực tiếp tác động tới tốc độ tăng trưởng bình quân trong các
năm sắp tới.
- Vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: nguồn này chủ yếu dùng
vào các định hướng đầu tư phát triển chiều sâu, đổi mới công nghệ, đa dạng
hoá sản phẩm và mở rộng quy mô doanh nghiệp hiện đang hoạt động cũng như
mở rộng thêm doanh nghiệp mới do thị trường trong và ngoài nước mở rộng
thêm và do xuất hiện nhu cầu mới hoặc do yêu cầu phân tán rủi ro, tăng thêm
khả năng cạnh tranh.
- Vốn tiết kiệm trong dân cư: có thể nói đây là nguồn vốn khá lớn, có khả
năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động đầu tư trong tương lai nhưng chưa
được tổ chức khai thác huy động tốt. Nhiều kết quả tính toán cho thấy, nếu
khoảng 40-45% số vốn trong dân cư đầu tư vào sản xuất và dịch vụ thì cũng là
một yếu tố đáng kể làm lên tốc độ phát triển GDP hàng năm đáng kể của các
ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vu. Nếu chúng ta có chính sách huy
động thoả đáng số vốn tiết kiệm trong dân thì sẽ có khả năng tăng nhanh cả về
số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng số các nguồn đầu tư trong nước. Nguồn vốn
tiết kiệm trong dân cư có thể coi là nền tảng của các hoạt động đầu tư xét về
lâu dài, là cơ sở của việc hình thành ba tầng hoạt động kinh doanh trong nền
kinh tế nước ta: tầng hoạt động kinh doanh không phải đăng ký kinh doanh;
tầng hộ kinh doanh cá thể; tầng kinh doanh của các doanh nghiệp.
* Vốn huy động từ nước ngoài:
- Vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA): đây là nguồn vốn do các
nước và các tổ chức quốc tế viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi (lãi
suất, thời hạn vay ). Nguồn vốn này được tập trung vào ngân sách và có thể
Trang 9
sử dụng trực tiếp để Nhà nước đầu tư hoặc cho vay lại (nhưng phải bảo đảm
nguyên tắc hoàn trả).
- Vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO). Nguồn vốn này chủ yếu
dùng vào mục đích nhân đạo, nhưng cần có cơ chế thu hút thích hợp và sử
dụng, có hiệu quả hơn, đặc biệt trong việc cải thiện và phát triển các vấn đề xã
hội.
- Vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của tư nhân nước ngoài: đây là nguồn vốn
khá lớn và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một mặt, nó tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ và tìm thị
trường tiêu thụ hàng hoá ổn định trong điều kiện Việt Nam còn thiếu kinh
nghiệm kinh doanh trên trường quốc tế. Mặt khác vốn FDI gắn với trách
nhiệm bảo toàn và phát triển vốn của bên nước ngoài đỡ được gánh nặng nợ
nần của Chính phủ.
- Vốn của Kiều dân Việt Nam làm ăn, sinh sống ở nước ngoài: Người
Việt Nam định cư ở nước ngoài nói chung không có nhiều vốn như Kiều dân
của một số nước khác như Trung Quốc, nhưng không phải là không có. Do
đó một mặt phải xây dựng được chính sách thích hợp để thu hút đầu tư của họ;
mặt khác cần phát huy tiềm năng của Việt kiều làm cầu nối để thu hút vốn của
các quốc gia nơi họ sinh sống đầu tư vào Việt Nam.
Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng, nếu không huy động tốt và đủ các
nguồn vốn đầu tư trong nước thì rất khó có thể khai thác và sử dụng có hiệu
quả những nguồn đầu tư lớn từ bên ngoài nhằm phục vụ định hướng phát triển
đất nước. Chính vì vậy trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế theo
đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, chiến lược lâu dài của
nước ta là tăng nhanh tiết kiệm nội địa, huy động tối đa nguồn vốn trong nước,
nâng dần tỷ trọng vốn trong nước trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội.
2 - Khuyến khích đầu tư trong nước
2.1. Nhận thức
Trang 10
Khuyến khích đầu tư trong nước là việc sử dụng các cơ chế, chính sách,
biện pháp, nhằm kích thích quá trình đầu tư các nguồn lực vào các ngành, lĩnh
vực, địa bàn trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội trong từng thời kỳ của đất nước.
Để khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước, Nhà nước phải xây
dựng, hoàn thiện một hệ thống các công cụ pháp lý và các biện pháp kinh tế,
xã hội nhằm bảo hộ, bảo đảm đối xử bình đẳng với tất cả các chủ thể tham gia
hoạt động đầu tư, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu
tư, quy định thủ tục hành chính, đơn giản tiện lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu
tư vào các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội trên lãnh thổ theo những khung
pháp lý cụ thể và theo các lĩnh vực, kế hoạch xác định cụ thể.
Mục đích sự khuyến khích của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư là tạo cơ
hội cho các chủ thể tham gia đầu tư có thể huy động và sử dụng có hiệu quả
nhất các nguồn vốn, tài nguyên, lao động tạo thêm việc làm cho xã hội,
nhằm thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đồng
thời bảo hộ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, của người góp vốn đầu tư, tăng
cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư, cải thiện ngày
một tốt hơn môi trường kinh doanh, định hướng và tụ hội các ý đồ đầu tư của
các chủ thể tập trung vào các ngành, vùng, lĩnh vực cần khuyến khích phát
triển, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng theo hướng
tiến bộ. Tuy các ý đồ cụ thể có khác nhau, song trên bình diện chung hầu hết
các quốc gia đều hướng tới các mục đích đó.
Để tạo khung pháp lý khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước
trong điều kiện thực thi nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý và định hướng của Nhà
nước, ngày 22/6/1994 Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật
khuyến khích đầu tư trong nước (KKĐTTN). Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/1/1995. Để hướng dẫn thực hiện Luật này, ngày 12 tháng 5 năm 1995,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/CP quy định chi tiết thi hành Luật
KKĐTTN. Đây là những văn bản pháp luật đầu tiên ở cấp Luật và cấp Nghị
Trang 11
định nhằm điều chỉnh các quan hệ chủ yếu về KKĐTTN ở nước ta. Tuy mới
được triển khai thực hiện từ 1/1/1995, Luật KKĐTTN đã có những đóng góp
đáng kể cho sự phát triển kinh tế đất nước đem lại những luận điểm, kết quả
đáng mừng, góp phần thúc đẩy đáng kể hoạt động đầu tư trong nước.
Muốn khuyến khích một hoạt động nào đó, trước hết phải hình thành
được ý tưởng khuyến khích. Khâu tiếp theo là phải thiết kế được cơ chế vận
hành cụ thể rồi tiến hành pháp lý hoá chung. Nói đến chính sách khuyến khích
là nói trên tổng thể, trên những nét khái quát nhất thuộc lĩnh vực ý tưởng
khuyến khích. ý tưởng đó có vào được cuộc sống hay không và mức độ chấp
nhận, thái độ của đông đảo quần chúng trong việc đón nhận ý tưởng đó như
thế nào phần nhiều phụ thuộc vào khâu thiết kế cơ chế vận hành và tính chính
xác, tính khách quan của khâu pháp lý hoá. Trong việc khuyến khích đầu tư
trong nước cũng vậy, muốn đạt được mục tiêu phát triển nào đó, trong những
điều kiện lịch sử cụ thể thái độ khuyến khích cần được xác định rõ ràng. Đây
cũng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo yêu cầu về tính nhất quán của chính
sách. Khâu tiếp đến hết sức cơ bản là việc thiết kế cơ chế vận hành của chính
sách. Công việc này thường do các nhà chuyên môn kịp ra chính sách thực
hiện dưới sự chỉ đạo của các nhà chính trị. Khâu này phải bảo đảm thoả mãn 3
yêu cầu cùng một lúc: thể hiện được thái độ chính trị của nhà nước trong việc
khuyến khích, quy phạm hoá các quan hệ khuyến khích cần điều chỉnh bằng
luật pháp và cuối cùng là bảo đảm khả năng chấp nhận của quần chúng số
đông (khía cạnh tâm lý xã hội).
Thông thường khi ý tưởng chính sách khuyến khích phù hợp với lợi ích
của đại đa số quần chúng nhân dân thì có thể khâu thể chế hoá chưa thực sự tốt
thì khả năng đi vào cuộc sống của chính sách vẫn có thể bảo đảm. Đó là
trường hợp đã từng diễn ra trong đổi mới nông nghiệp Việt Nam thời kỳ
"Khoán 100", và "Khoán 10", chỉ cần Đảng có chỉ thị cho phép, chưa đợi đến
sự pháp lý hoá đầy đủ của nhà nước thì khoán nông nghiệp đã diễn ra trên diện
rộng, như một trào lưu xã hội - kinh tế không thể đảo ngược. Tất nhiên, khi
các quan hệ lợi ích ngày càng phức tạp thêm, đa dạng hơn, muốn tư tưởng
Trang 12
khuyến khích ngày càng tiếp tục đi vào cuộc sống mà không bị khúc xạ, thì tất
yếu phải làm tốt khâu thể chế hoá. Và nói chung trong xã hội công nhân, Nhà
nước pháp quyền và kinh tế thị trường thì không thể làm thiếu, làm yếu khâu
thể chế hoá. Sự thiếu nhạy cảm với những vấn đề có tính nguyên tắc như vậy
trong quy trình quản lý nói chung, quản lý bằng pháp luật nói riêng đều làm
hạn chế tác dụng tích cực của chính sách khuyến khích. Hơn nữa trong trường
hợp do chỗ những đối tượng mà Nhà nước cần khuyến khích trong từng thời
kỳ không phải bao giờ cũng trùng hợp với nguyện vọng của mọi người dân (sự
lệch pha nhất định giữa lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội và lợi ích của cá nhân
công dân) nên nếu không có sự thể chế tốt, sát hợp thì khó có thể sử lý hài hoà
các xung đột về lợi ích có thể có khi thực hiện chính sách khuyến khích, chính
sách ưu đãi của Nhà nước.
2.2. Một số nội dung hỗ trợ và ưu đãi chủ yếu của Luật Khuyến khích
đầu tư trong nước năm 1994
Xét về mặt thời hiệu pháp lý, quá trình thực hiện các quy định pháp lý về
khuyến khích đầu tư trong nước ở Việt Nam bao gồm hai giai đoạn chủ yếu:
Một là từ 22/6/1994, ngày Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua Luật
KKĐTTN cho đến ngày 01/01/1999 ngày có hiệu lực của Luật KKĐTTN (sửa
đổi) số 03/QH10; Hai là từ ngày 01/01/1999 đến nay. Trong thời kỳ thứ nhất
cũng có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn thực hiện Nghị định số 29/
CP ngày 12/5/1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật KKĐTTN
cho đến ngày 30/01/1998 ngày mà Nghị định số 07/1998/NĐ-CP thay thế Nghị
định số 29/CP chính phủ; giai đoạn từ Nghị định 07 có hiệu lực đến ngày
01/01/1999 tức là ngày Luật KKĐTTN (sửa đổi) số 03/QH10 có hiệu lực -
thực hiện Nghị định số 51/1999/NĐ-CP- cho đến nay. Xét về mặt kỹ thuật của
vấn đề pháp lý có thể có một số điểm không giống nhau quy định tại các văn
bản quy phạm, song xét về tư tưởng chính sách thì những nội dung về khuyến
khích, hỗ trợ, ưu đãi không cách nhau quá xa. Nhiều nội dung quy định tại
Luật KKĐTTN năm 1994 đã được các văn bản quy phạm pháp luật sau đó
Trang 13
hoàn thiện và bổ sung dần. Dưới đây là một số nội dung về hỗ trợ và ưu đãi
mà Luật KKĐTTN đề cập.
Mục đích của Luật KKĐTTN được xác định rõ ràng ở căn cứ ban hành
Luật. Đó là, để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyên
lao động và các tiềm năng khác của đất nước nhằm góp phần phát triển kinh tế
xã hội, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Cả
Luật 1994 và Luật 1998 đều quy định như vậy. Đồng thời cả hai Luật đều
khẳng định sự bảo hộ, sự khuyến khích của Nhà nước đối với mọi tổ chức,
công dân đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên Luật 1998 còn nói rõ và
khẳng định một sự "đối xử bình đẳng", "sự tạo điều kiện thuận lợi" của Nhà
nước đối với các chủ thể tham gia đầu tư.
2.2.1. Luật quy định ba loại hình đầu tư được áp dụng theo Luật Khuyến
khích đầu tư trong nước bao gồm:
a - Dự án đầu tư thành lập và phát triển cơ sở sản xuất kinh doanh mới
thuộc mọi thành phần kinh tế.
b - Đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh ,
nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất kinh doanh
hiện có.
c - Mua cổ phần của các doanh nghiệp, góp phần vốn vào các doanh
nghiệp, kể cả doanh nghiệp Nhà nước được phép đa dạng hoá hình thức sở
hữu.
2.2.2.Đối tượng khuyến khích đầu tư trong nước
Trên cơ sở đó, Nghị định 29/3 CP, Nghị định số 07/1998/NĐ-CP cụ thể
hoá các đối tượng khuyến khích đầu tư của Luật KKĐTTN gồm:
a - Các doanh nghiệp được thành lập theo Luật Công ty, Luật Doanh
nghiệp tư nhân, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp
của các tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp và cá nhân, nhóm kinh
doanh hoạt động theo Nghị định số 66/HĐBT ngày 2 tháng 3 năm 1992 của
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét