Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Lý thuyết tài chính- tiền tệ

giàu nghèo chính vì vậy mà Đang và chính phủ đã và đang có những biện pháp
khắc phục hiện trạng trên.
Đói nghèo là hậu quả đan xen của nhiều nhóm các yếu tố. Một số các chuyên
gia quốc tế đã đa ra nguyên nhân dẫn đến đói nghèo là:
- Nhóm nguyên nhân do bản thân ngời nghèo: Nông dan thiếu vốn sản xuất
thờng rơivào vòng luẩn quẩn, sản xuất yếu kém, làm không đủ ăn, phảI đI làm
thuê, đI vay để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày. Vì vậy họ không đủ vốn
để táI sản xuất, muốn vay vốn ngân hàng thì không đủ tàI sản thế chấp, họ chỉ
trông chờ vào sự giúp đỡ của bà con hàng xóm, của cộng đồng. Nhng sự giúp
đỡ này chỉ rất nhỏ bé so với nhu cầu chonên ngời nông dân phảI bán lúa non
hoặc vay nặng lãI hoặc ứng trớc sản phẩm. thiếu vốn sản xuất là nguyên nhân
chủ yếu nhất và nó là một lực cản lớn hạn chế sự phát triển sản xuất và nâng cao
đời soóng của các hộ nông dân nghèo. Các hộ nông dân nghèo thờng thiếu kinh
nghiệm và kiến thức làm ăn, lam lũ quanh năm, bán mặt cho đất bán lng cho
trời, hơn nữa phơng pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức của họ, họ
thờng bị cách ly với thế giới bên ngoàI vì họ sống nơI hẻo lánh, giao thông đi
lạI khó khăn, thiếu phơng tiện thông tin, con cáI không đợc học hành. Những
đIều đó đã làm cho hộ nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí, không ứng
dụng đợc những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác, không có kinh nghiệm
và trình độ sản xuất kinh doanh. Ngời nông dân nghèo vẫn mang đậm t tởng
ngày xa mong có đử cả nếp tẻ cho nên sinh đẻ nhiều, sức khoẻ yếu lại không đ-
ợc chăm sóc tử tế cho nên không đử sức làm kinh tế. Hiện tại một ngời trong đọ
tuổi lao động của hộ nghèo phải nuôI từ 2 đến 3 con, số hộ nghèo thuộc diện
chính sách tỷ lệ ít, phần lớn là ngời già và trẻ em, ngời làm thì ít mà ngời ăn thì
nhiều, đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến thu nhập thấp, đời sống gặp
nhiều khó khăn, không đủ sức làm kinh tế. Do qua túng thiếu, nợ nần dây da
cho nên họ đã phảI bán đất canh tác hoặc bị kê biên thu hồi, dẫn đến không có
hoặc có rất ít đất đai để canh tác nên cũng làm cho gia đình luôn túng thiếu gặp
nhiều khó khăn. Do thu nhập thấp cho nên ngời nghèo thờng hay bi quan,
- 5 -
không năng động trong cuộc sống, hay rơI vào tinh trạng cờ bạc, rợu chè,
nghiện hút hoặc trở thành cửu vạn làm thuê làm mớn.
- Nhóm nguyên nhân do môi trờng tự nhiên, xã hội: Điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt đã tác động sâu sắc đến sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân. ở
những vùng có thời tiết khí hậu khắc nghiệt nh thiên tai, lũ lụt, hạn hán, dịch
bệnh, mất mùa, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, vùng xa xôi hẻo lánh, đờng
giao thông đi lại khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém là những vùng có nhiều hộ
nghèo đói nhất. Mặt khác, nông thôn nớc ta còn phải gánh chịu hậu quả của
chiến tranh, đây cũng là nguyên nhân gây lên nghèo đói. Ngoài ra, ở nông thôn
còn có vùng lạc hậu, điều kiện vật chất cơ sở hạ tầng thấp kém, các thủ tục tập
quán lạc hậu vừa gây tốn kém vừa lãng phí nên đã dẫn họ đến nghèo đói.
- Nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách: Trung ơng cũng nh địa phơng
cha có chính sách đầu t cơ sở hạ tầng thích đáng, nhất là ở các vùng núi cao,
vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng, thiếu tính đồng bộ, u đãi khuyến khích sản
xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, thiếu sự tổ chức chăm lo của cộng
đồng xã hội với ngời nghèo.
Các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói nói trên nó có tác động qua lại với nhau
làm cho tình trạng đói nghèo ở từng vùng thêm trầm trọng, khiến cho các hộ
nghèo đói khó có thể vợt qua, nếu nhà nớc không có chính sách, những giải
pháp hữu hiệu riêng đối với hộ nghèo, vùng nghèo.
2) Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo:
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mợn giữa các ngân hàng, các tổ
chức tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân. Thực tế cho thấy tín dụng
ngân hàng kích thích sự tăng trởng kinh tế, gia tăng tích tụ vốn để đầu t vao quá
trình sản xuất nhằm nâng cao lơi nhuận cho toàn bộ nền kinh tế.
Trong điều kiện hiện nay, tín dụng ngân hàng giữ một vai trò quan trọng thể
hiện ở các mặt sau đây:
- 6 -
-Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất đ-
ợc liên tục, đồng thời góp phần đầu t phát triển nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng
là đòn bẩy thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
-Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển
và ngành mũi nhọn đảm bảo tốt nhất yêu cầu nâng cao hiệu quả của việc sử
dụng vốn.
-Tín dụng ngân hàng góp phần tác động đến việc tăng cờng chế độ hach
toán kinh tế của các doanh ngiệp.
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nớc
ngoài.
Nh chúng ta biết, nông ngiệp nông thôn nớc ta có một vai trò và vị trí quan
trọng đặc biệt, vì vậy trông những năm gần đây, Đảng và chính phủ ta đã rất
chú trọng tập trung đầu t trong nông nghiệp nông thôn, đẩy mạnh CNH-HĐH
trong nông thôn, nâng cao đời sống ngời dân đặc biệt là đối với các hộ nghèo
đói (chủ yếu ở trong khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa), muốn làm những
điều này Đảng và chính phủ ta đã có nhiều chính sách yêu đãi đối với các hộ
đói nghèo, áp dụng các chính sách nh: hỗ trợ các hộ nghèo đói về vốn thông
qua hoạt động của các ngân hàng đặc biệt là ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn mà cụ thể là ngân hàng phục vụ ngời nghèo. Đất nớc ta đang
từng ngày đổi mới, từng bớc vơn lên hoà nhập cùng thế giới nhng tỷ lệ nghèo
đói ở nớc ta còn cao cho nên vấn đề đâu t phát triển nông nghiệp nông thôn đặc
biệt là vấn đề giảm bớt tỷ lệ các hộ nghèo đói của nớc ta là một vấn đề hết sức
quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nớc ta. Chính vì vậy mà tín dụng ngân
hàng có vai trò hêt sức quan trọng trong vấn đề giảm bớt tỷ lệ các hộ nghèo đói
trong cả nớc. Nhận thức đầy đủ vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng đối
với sự phát triển nông nghiệp nông thôn, tại Hội nghị lần thứ V khoá VII của
Đảng đã chỉ rõ Khai thác phát triển các nguồn tín dụng của nhà nớc và nhân
dân tạo điều kiện tăng tỷ lệ hộ nông dân đợc vay vốn sản xuất, u tiên cho các hộ
nghèo, vung nghèo vay vốn để sản xuất.
- 7 -
Một nền kinh tế không thể tăng trởng và phát triển một cách bền vững, ổn
định mỗi khi trong xã hội vẫn còn tồn tại tỷ lệ hộ nghèo đói khá cao. Do vậy
phát triển nông nghiệp nông thôn để giải quyết vấn đề đói nghèo đã và đang trở
thành một yêu cầu cấp bách không chỉ về mặt phơng diện kinh tế mà còn cả về
phơng diện xã hội. Đầu năm 1998 Chính phủ quyết định xoá đói giảm nghèo là
một trong 7 chơng trình quốc gia. Việc tăng cờng huy động vốn trong và ngoài
nớc. Đòi hỏi phải xây dựng và đề xuất những giải pháp hữu hiệu hơn để giải
quyết giảm số hộ nghèo đói nhanh hơn tăng số hộ giàu và làm thay đổi bộ mặt
nông thôn. Chính vì vậy mà vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo là
vô cùng quan trọng trong tình hình ngày nay.
3) Hiệu quả tín dụng:
Hiệu quả tín dụng có nghĩa là phát triển việc cho vay đối với các hộ nghèo
nhằm giúp đỡ ngời dân nghèo cải thiện đợc đời sống, thoát ra cảnh đói nghèo,
giảm tỷ lệ đói nghèo xuống mức thấp nhất. Đó chính là khái niệm về hiệu quả
tín dụng đối với các ngân hàng phục vụ cho ngời nghèo nh ngân hàng ngời
nghèo hay ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, còn hiệu
quả tín dụng đối với từng ngân hàng khác nhau thì có những khái niệm khác
nhau về vấn đề này. Trong đề án này là nói về hiệu quả tín dụng đối với các hộ
nghèo nên khái niệm về hiệu quả tín dụng chủ yếu liên quan tới vấn đề là giúp
đỡ ngời nghèo cải thiện cuộc sống và hơn nữa ngân hàng ngời nghèo là ngân
hàng chính sách nhằm giúp đỡ ngời nghèo cải thiện cuộc sống theo định hớng
của nhà nớc.
Để đạt đợc hiệu quả tín dụng với mức cao nhất thờng thì có nhiều yếu tố tác
động làm hiệu quả tín dụng không đạt đợc kết quả theo nh mong muốn trong đó
có một số các nhân tố nh: Đất nớc ta là một nớc đang phát triển, đi lên từ một n-
ớc thuần nông nghiệp, lại phải trải qua 2 cuộc chiến tranh bị tàn phá nặng nề
cho nên về cơ bản điểm xuất phát của nớc ta là rất kém, đời sống của nhân dân
còn rất kém. Đất nớc ta là một nớc nông nghiệp lạc hậu có nhiều sông ngạch, cơ
sở hạ tầng thấp kém, giao thông thuỷ bộ kém phát triển dẫn đến trong công tác
- 8 -
tín dụng gặp nhiều khó khăn đậc biệt là các vùng sâu, vùng xa dân c sống tha
thớt. Do nớc ta là mọt nớc thuộc khu vực ôn đới gió mùa nên năm nào cũng có
bão mạnh đổ bọ vào gây khó khăn cho đời sống nhân dân, ảnh hởng tới công
tác tín dụng, đồng vốn tín dụng cho dân vay trong trờng hợp này có nguy cơ
mất điều này cũng ảnh hởng tới hiêu quả tín dụng. Trình độ dân trí cha cao khi
họ nhân đợc vốn tín dụng họ không biết làm sao cho có lợi đó là điều rất thiệt
thòi cho chúng ta đặc biệt là cho tín dụng ngân hàng, do thiếu hiểu biết nhiều
ngời còn cha biết đến tín dụng vay vốn, khi có vốn trong tay ngời dân không
dám mạnh dạn đầu t kinh doanh, không dám cầm tiền đa vào kinh doanh chấp
nhận rủi ro. Đó là những nhân tố ảnh hởng một cách khách quan tới hiệu quả tín
dụng cón những nhân tố chủ quan đó là những chính sách đối với tín dụng, cơ
chế quản lý kém hiệu quả. Về chính sách đối với tín dụng cha đồng bộ còn bộc
lộ nhiều sơ hở kém linh hoạt không đáp ứng đợc cơ chế thị trờng, cơ chế quản
ký yếu kém dẫn đến trờng hợp một số cán bộ yếu kém đạo đức lợi dụng chiếm
đoạt tài sản của công, quản lý không mang lại hiệu quả, không mạnh dạn áp
dụng các biện pháp chính sách trong công việc
II) Hoạt động của ngân hàng ngời nghèo và hiệu quả tín dụng của ngân
hàng ngời nghèo đối với hộ nông dân nghèo:
1) Ngân hàng ng ời nghèo (NHNg):
NHNg đợc thành lập gồm có Hội đồng quản trị đứng đầu là chủ tịch hội đồng
quản trị và các thành viên của hội đồng, ngời đứng ra quản lý trực tiếp là tổng
giám đốc NHNg và ban Tổng giám đốc, Tổng kiểm soát Hội đồng quản trị,
NHNg đợc thành lập ở tất cả các tỉnh trong cả nớc, ở mỗi tỉnh lại có nhiều chi
nhánh ở các huyện, quận và ngời lãnh đạo ở các tỉnh là giám đốc NHNg cùng
ban lãnh đạo ngân hàng. Cùng với mô hình đặc thù, có Hội đồng quản trịvà Ban
đại diện Hội đồng quản trị các cấp, đã tập hợp đợc sức mạnh tổng hợp các
ngành, các cấp, các đoàn thể chính trị xã hội và đông đảo cộng đồng dân c từ
mọi miền đất nớc góp tiền, góp sức phát huy tinh thần tơng thân tơng ái của dân
- 9 -
tộc ta.Tính đến nay NHNg đợc thành lập ở hầu hết các tỉnh trong cả nớc và hoạt
động có nhiều hiệu quả.
Sau gần 5 năm thành lập và hoạt động, NHNg vừa kiện toàn bộ máy hoạt động
và xây dựng cơ chế nghiệp vụ, vừa triển khai các hoạt động huy động vốn và
cho vay nhng cũng đã đạt đợc những kết quả đáng kể trong việc cung cấp vốn
tín dụng tới những hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Kết quả đó thể
hiện:
Về nguần vốn: Tính đến ngày 31/12/2000, tổng nhuồn vốn của NHNg đạt
5.015 tỷ đồng so với nguồn vốn từ khi thành lập và chuyển giao từ Quỹ cho vay
u đãi hộ nghèo chuyển sang là 521 tỷ đồng thì nguồn vốn đã tăng lên 4496 tỷ
đồng với kết cấu nguồn vốn chủ yếu là nguồn vốn vay từ các Ngân hàng thơng
mại quốc doanh 2.602 tỷ đồng chiếm 55,9% tổng nguồn vốn vay vốn Ngân
hàng nhà nớc (chiếm 18%), vốn vay Tổ chức nớc ngoài (Quỹ OPEC chiếm
1,7%), vốn nhận dịch vụ uỷ thác (chiếm 1%), vốn từ ngân sách địa phơng
chuyển sang (chiếm 6,7%) và một phần nhỏ từ vốn huy động trong cộng đồng
dân c.
Về kết quả cho vay: Với tổng nguồn vốn nêu trên, NHNg đã thực hiện cung
cấp tới phần lớn các hộ nghèo có nhu cầu vay vốn trên phạm vi toàn quốc. Tính
đến ngày 30/9/2000, đã có hơn 5,3 triệu lợt hộ nghèo nhận đợc vốn vay tín dụng
từ NHNg với tổng số tiền là 8.396 tỷ đồng. Nhiều hộ nghèo là dân tộc thiểu số
cũng đã đợc vay vốn với d nợ là 733 tỷ đồng chủ yếu là ngời dân tộc Tày, Nùng,
Thái, Mờng, Khơ me
Về đối tợng phục vụ: Là những hộ gia đình nghèo có sức lao động, có khả
năng tổ chức sản xuất kinh doanh nhng thiếu vốn. Hộ nghèo đợc nhận diện theo
chuẩn mực phân loại do Bộ Lao động Thơng Binh và Xã hội công bố từng thời
kỳ, các đối tợng này cha đợc vay vốn ở các toỏ chức tín dụng. Các hô gia đình
nghèo thuộc diện chính sách xã hội nh già cả neo đơn, tàn tật, không có sức lao
động, hoặc các gia đình nghèo gặp rủi ro bệnh tật, thiên tai, thiếu ăn do Quỹ xã
hội của Ngân sách Nhà nớc tài trợ. Những hộ này không thuộc đối tợng đợc vay
vốn của NHNg. Hộ nhèo vay vốn NHNg phải thực sự sản xuất kinh doanh dich
- 10 -
vụ, không đợc sử dụng vốn vay vào mục đích tiêu dùng, sinh hoạt, chữa bệnh,
cứu đói, tổ chức hội hè, chơi đề, nghiện hút
Ưu đãi về lãi suất cho vay: Nh n ớc có chính sách u đãi về lãi suất cho vay
đối với ngời nghèo, NHNg cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất thấp hơn lãi suất
cho vay của các ngân hàng thơng mại, Quỹ tín dụng nhân dân. NHNg cho vay
cung 1 mức lãi suất cho các loại cho vay khác nhau(ngắn hạn, trung hạn). Lãi
suất cho vay hộ nghèo vùng 3(Theo quy định của Uỷ ban Dân tộc và miền núi)
đợc giảm 0,1% so với lãi suất cho vay thông thờng. Lãi suất nợ quá hạn bằng
130% lãi suất cho vay ghi trên sổ vay vốn. (Thấp hơn so với lãi suất nợ quá hạn
của ngân hàng thơng mại là bằng 150% lãi suất cho vay thông thờng). Lãi suất
cho vay đợc thay đổi theo tng thời kỳ do chính phủ quy định căn cứ sự thay đổi
mặt bằng lãi suất chung trên thị trờng. Trong 5 năm qua, đã có 5 lần thây đổi
theo hớng hạ lãi suất cho vay đối với hộ nghèo từ mức lãi suất 1,2%/tháng hạ
xuống 1%/tháng; 0,8%/tháng và hiện nay đang áp dụng là 0,7%/tháng, riêng
đối với hộ nghèo vùng III đợc vay lãi suất 0,6%/tháng và đều thấp hơn lãi suất
cho vay hiện hành của các NHTM và Hợp tác xã tín dụng.
Về quy định mức cho vay tối đa: Khi mới thành lập NHNg: mức cho vay tối
đa không quá 2,5 triệu đồng/hộ. Hiện nay, điều chỉnh nâng lên tối đa không quá
3 triệu đồng/hộ. Riêng đối với những hộ nghèo đầu t cho chăn nuôi đại gia súc,
trông cây ăn quả, cây công nghiệp, mua sắm công cụ, nuôi trồng đánh bắt hải
sản, kinh doanh ngành nghề, đợc vay vốn tối đa đến 5 triệu đông/hộ phù hợp với
tăng trởng nguồn vốn của NHNg và quy mô sử dụng vốn đối với hộ nghèo
Về thời hạn cho vay: Việc xác định thời hạn cho vay căn cứ vào chu kỳ sản
xuất kinh doanh và trả nợ của ngời vay nhng tối đa không quá 60 tháng. Hộ
nghèo đợc vay vốn nhiều lần cho đến khi thoát khỏi ngỡng nghèo theo chuẩn
mực phân loại của Bộ lao động thơng binh xã hội. Thời hạn cho vay trung hạn
tối đa 36 tháng, nay đợc nghiên cứu áp dụng thời hạn tối đa 60 tháng. Ngoài ra,
NHNg còn áp dụng các hình thức cho vay lu vụ, gia hạn nợ.
Về thủ tục cho vay: Thủ tục cho vay hộ nghèo đơn giản. Hộ nghèo vay vốn
không phải thế chấp tài sản. Hộ nghèo chỉ phải điền vào đơn xin vay theo mẫu
- 11 -
đã đợc ngân hàng in sẵn. Trong đơn nêu rõ mục đích vay tiền, số tiền xin vay và
cam kết của hộ vay vốn đối với ngân hàng.
Các quy định khác:
Hộ nghèo vay vốn phải có trách nhiệm trả gốc và lãi đầy đủ theo đúng thời hạn
đã cam kết với ngân hàng. Hộ nghèo vay vốn chỉ phải trả khoản lãi vay theo lãi
suất vay vốn đớc NHNg công bố theo từng thời điểm cụ thể, không phải trả
thêm bất kỳ một khoản phí nào khác. Việc trả lãi có thể trả theo tháng hoặc quý
tuỳ theo sự thoả thuận của ngân hàng với ngời vay vốn. NHNg không tính lãi
cha trả để nhập vào gốc. Nừu lãi cha thu đợc của kỳ trớc chuyển sang thu vào
kỳ kế tiếp.
NHNg phát tiền vay trực tiếp cho những hộ nghèo nằm trong danh sách đã đ-
ợc tổ bình nghị và đợc cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Chính sách xử lý rủi ro: Nhà nớc có chính sách xử lý rủi ro để hỗ trợ hộ
nghèo vay vốn gặp rủi ro bất khả kháng nh thiên tai, hoả hoạn, dich bệnh gây
thiệt hại đến tài sản của hộ vay vốn trong đó có vốn vay ngân hàng. Những tr-
ờng hợp rủi ro này dù xảy ra trên diện rộng hay trên diện hẹp, dù khoản vay đến
hạn hoặc cha đến hạn sẽ đợc NHNg xử lý tuỳ theo mức độ thiệt hại. Trờng hợp
hộ nghèo vay vốn cha trả đợc nợ do nguyên nhân sản xuất ra cha tiêu thụ đợc
sản phẩm thì NHNg cho gia hạn nợ đến khi hộ nghèo bán đợc sản phẩm trả nợ
ngân hàng. Nhng tối đa không quá 60 ngày.
2) Hiệu quả tín dụng của ngân hàng ng ời nghèo đối với các hộ thuộc diện đói
nghèo:
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mợn giữa ngân hàng, các tổ chức tín
dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân.
NHNg đợc thành lập nhằm mục đích giúp các họ nghèo vợt lên khó khăn thoát
ra khỏi cảnh đói nghèo hoà nhập với cuộc sống nhng bên cạnh đó nó cũng hoạt
động nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận nhng với mức thấp. Chính vì vậy
mà khi nói đến hiệu quả tín dụng của NHNg chúng ta phải nói tới vấn đề sử
dụng vốn và hiệu quả của việc sử dụng vốn đó nh thế nào thu đợc lợi nhuận cao
hay thấp. Cho đến nay sau 5 năm đợc thành lập NHNg có tổng số vốn ban đầu
- 12 -
là 521 tỷ đồng và bây giờ là 5015 tỷ đồng nh vây sau 5 năm đợc thành lập
NHNg đã đa tổng nguồn vốn của mình tăng thêm giúp ngân hàng hoạt động có
hiệu quả hơn, tốt hơn. Thu lãi cho vay vẫn là khoản thu chính, duy nhất của
NHNg nên vẫn đợc NHNg các cấp tích cực khai thác nhằm giảm bớt căng thẳng
về kinh phí hoạt động cũng nh tạo tiền đề cho việc sử lý một số vấn đề có liên
quan đến khả năng tài chính của NHNg, tổng số lãi thu đợc trong năm 2000 là
325 tỷ tăng 15,6% so với năm 1999, tỷ lệ thu lãi bình quân toàn quốc đạt
86,6% tăng 1,6% so với năm 1999. Thu lãi từ tiền gửi đây là khoản lãi phát sinh
từ số vốn tạm thời nhàn rỗi đang trên tài khoản tiền gửi tại NHNo. Tổng thu lãi
tiền gửi là 5,2 tỷ đồng năm 2000. Hệ số sử dụng vốn trong năm 2000 bình quân
cả năm là 92,6%. Nói hiệu quả tín dụng cũng là nói đến vấn đề đã cho vay đợc
bao nhiêu tiền trong 1 năm và nó đã có tác dụng gì giúp các hộ nghèo đói chính
vì vậy mà khi đánh giá hiệu quả tín dụng của NHNg chúng ta thờng nhìn vào
kết quả này, thật kích lệ là cho đến nay sau 5 năm thành lập nói chung là trong
thời gian ngắn nhng với sự hoạt động có gắng và có hiệu quả NHNg hàng năm
cho các đối tợng thuộc diện đợc vay vốn vay vốn với số tiền hàng tỷ đông mỗi
năm nh năm 2000 doanh số cho vay laf 2171 tỷ đồng trong đó doanh số cho vay
quý IV là 724 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 33,4% doanh số cho vay cả năm. Doanh
số thu nợ đạt 1364 tỷ đồng, trong đó doanh số thu nợ quý IV là 452 tỷ đồng,
chiếm tỷ trọng 33,1% doanh số thu nợ cả năm. Đến ngày 31/12/2000, tổng d nợ
cho vay hộ nghèo đạt 4704 tỷ đồng, tăng 807 tỷ đông(20,7%) so với năm 1999,
trong đó quý IV tăng 326 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 40,4% trong tổng số d nợ cả
năm và đạt 89,4% kế hoạch năm 2000. Hiện có gần 2,5 triệu hộ thuộc 208 ngàn
tổ vay vốn còn d nợ NHNg. D nợ bình quân một hộ là 1880 ngàn đồng, tăng so
với năm đầu tiên hoạt động (1996) là 500 ngàn đồng/hộ và tăng so với năm
1999 là 200 ngàn đồng/ hộ. Tính đến ngày 30/9/2000, đã có hơn 5,3 triệu hộ
nghèo nhận đợc vốn tín dụng từ NHNg với tổng số tiền là 8396 tỷ đồng. Với số
vốn vay hộ nghèo đã đầu t vào sản xuất kinh doanh, chủ yếu là đầu t vào sản
xuất nông nghiệp, thâm canh tăng vụ, mở rộng ngành nghề, cải thiện đời sống
và nâng cao thu nhập để trả nợ ngân hàng với doanh số thu nợ đạt 4017 tỷ đồng.
- 13 -
Hiện còn 2467 ngàn hộ d nợ ngân hàng với số tiền 4379 tỷ đồng, bình quân mỗi
hộ d nợ tới 1,7 triệu dồng. Trong doanh số cho vay nói trên, ngân hàng đã thực
hiện cung cấp tín dụng tới cả những hộ nghèo ở vùng III, d nợ hộ nghèo ở khu
vực III là 487 tỷ đồng với 280 ngàn hộ còn d nợ, trong đó cho vay hộ nghèo ở
các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa theo Quyết định
135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tớng Chính phủ là 324 tỷ đồng với
183 ngàn hộ d nợ tính đến năm 2000 tỷ lệ hộ nghèo đói trong cả nớc còn 11%
giảm xuống rất nhiều so với trớc đây thể hiện đợc chính sách cho vay đối với hộ
nghèo đạt đợc kết quả tốt, đời sống ngời dân đợc cải thiện nhiều, giúp nhiều hộ
trở lại cuộc sông hoà nhập với cộng đồng. Thời gian qua, tín dụng NHNg đã tập
trung đầu t cho hộ nghèo thực sự có hiệu quả, góp phần tạo việc làm, thay đổi
cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển dich cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ổn định cải
thiện đời sống vật chất, tinh thần cho dân nghèo. Đến nay, theo báo cáo của các
chi nhánh vốn NHNg đã góp phần giúp cho 425 ngàn hộ thoát khỏi ngỡng
nghèo đói, vơn lên hoà mhập với cộng đồng.
III) Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng của NHNg đối với
hộ nông dân nghèo.
1) Giải pháp về huy động vốn:
Để NHNg có thể phát triển bền vững thì cần phải có một nguồn vốn tơng đối
lớn. Muốn vậy phải tập trung mọi nguồn vốn tài trợ gắn với xoá đói giảm
nghèo mà lâu nay đang đợc các bộ, các ngành, các cấp, tổ chức đoàn thể quần
chúng quản lý về một đầu mối là NHNg quản lý và cho vay. Không thể tồn tại
mãi tình trạng nhiều chơng trình hỗ trợ vốn cho nông nghiệp nông thôn, cho
mục tiêu xoá đói giảm nghèo mà ngời nghèo lại thiếu vốn sản xuất, Cho nên
phải chú trọng việc huy động vốn, bảo toàn vầ không ngừng phát triển nguồn
vốn vì NHNg hoạt động vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo không vì mục tiêu lợi
nhuận.
- Đối với nguồn vốn từ ngân sách: Để từng bớc thực hiện chơng trình xoá đói
giảm nghèo, Nhà nớc cần phải dành một tỷ lệ nhất định trong các khoản chi
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét