Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Quản lý nhà nước đối với mặt hàng sữa bột trên địa bàn Hà Nội

- Loại sản phẩm dùng cho trẻ từ 1 tới 3 tuổi.
- Loại sản phẩm dùng cho bà mẹ mang thai.
- Loại sản phẩm dùng cho người già.
+) Tùy theo phương pháp chế biến sản phẩm được chia:
- Loại sản phẩm sữa bột không có phụ gia.
- Loại sản phẩm sữa bột có phụ gia.
- Loại sản phẩm dùng cho chế độ ăn kiêng.
+) Tùy theo phương pháp chế biến và nhu cầu sử dụng sản phẩm sữa thì được chia
làm các loại sau:
- Loại sản phẩm sữa bột dùng không cần đun sôi.(ăn trực tiếp).
- Loại sản phẩm cần phải đun sôi lại trước khi uống.
Trên đây là một số cách để chúng ta dễ dàng nhận biết sản phẩm sữa bột. Sữa
bột ngoài các đặc điểm trên thì sữa bột còn có thời gian bảo quản rất dài, các nhà
sản xuất có thể tiết kiệm được một phần lớn cho chi phí vận chuyển sữa do sản
phẩm có khối lượng giảm đi nhiều lần khi ta so sánh với nguyên liệu sữa tươi ban
đầu. Sữa bột còn có một tính chất rất quan trọng là độ hòa tan của sản phẩm.
2.1.3 Vai trò của mặt hàng sữa bột
Sữa là thức ăn tự nhiên có giá trị dinh dưỡng hoàn hảo được vắt từ vú động
vật, sữa chứa hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho người như protein, gluxit,
lipit, vitamin, Các muối khoáng. Những hợp chất này rất cần thiết cho khẩu phần
thức ăn hằng ngày của con người. Do đó các sản phẩm từ sữa có một ý nghĩa quan
trọng đối với dinh dưỡng của con người, nhất là đối với trẻ em, người già, và
người bệnh. Từ sữa người ta có thể sản xuất ra nhiều loại thực phẩm khác nhau
như sữa bột, sữa cô đặc, bơ, kem
5
Đặc biệt là sữa bột không những được sử dụng tại gia đình để pha chế mà
còn là nguyên liệu quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau như
trong sản xuất sữa tái chế và các sản phẩm chế biến từ sữa: như trong công nghiệp
sản xuất bánh nướng, công nghiệp sản xuất bánh kẹo, chocolate, socola, xúc xích.
2.1.4 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng sữa bột
- Chỉ tiêu cảm quan:màu sắc, mùi vị, trạng thái, cụ thể được thể hiện trong bảng
sau:
Bảng 2.1 – Các chỉ tiêu cảm quan của sữa bột
Tên chỉ tiêu Đặc trưng của sữa bột
1. Màu sắc Từ màu trắng sữa đến màu kem nhạt
2. Mùi, vị Thơm, ngọt đặc trưng của sữa bột, không có mùi, vị lạ
3. Trạng thái Dạng bột, đồng nhất, không bị vón cục, không có tạp chất lạ
(Nguồn: Theo cục vệ sinh an toàn thực phẩm)
Chỉ tiêu vi sinh: tổng số vi khuẩn hiếu khí, số VSV gây bệnh như ecoli,
salmonella,clostridium…
- Chỉ tiêu hóa lý: độ ẩm, tỷ trọng, khả năng hòa tan, độ chua, kích thước hạt, hàm
lượng các chất dinh duwongx như hàm lượng chất béo,lactose, vitamin, protein,
- Khả năng hòa tan của sữa bột được xác định qua các chỉ tiêu: chỉ số hòa tan, độ
thấm ướt, độ phân tán…
- Chỉ số hòa tan: phương pháp chung xác định chỉ số hòa tan là cho 10g sữa bột
gầy ( hoặc 13g sữa bột nguyên kem) vào 100ml nước ở 20 khuấy trộn trong một
thời gian xác định, sau đó đem li tâm trên thiết bị chuẩn với số vòng quay và thời
gian xác định. Sau quá trình li tâm, ta tách bỏ một thể tích xác định phần lỏng, tiếp
cho một lượng nước cất vào ống ly tâm, lắc đều rồi đem ly tâm lần hai. Thể tích
cặn thu được chính là chỉ số hào tan của sản phẩm sữa bột. Vậy chỉ số hòa tan
càng lớn thì độ hòa tan càng thấp.
6
- Độ thấm ướt: Là thời gian cần thiết tính bằng giây để làm ướt 10 g sữa gầy hoặc
13g sữa bột nguyên cream khi ta đổ sữa vào 100ml nước ở 20 .
- Độ phân tán: Là tỉ lệ % sữa bột không tan, thông thường người ta thường cho
10g sữa bột gầy hoặc 13g sữa bột nguyên cream vào 100ml nước ở 20 , khuấy đều
trong 20 giây rồi cho hỗn hợp vào bình thử.
2.1.5 Quản lý nhà nước về mặt hàng sữa bột
Quản lý có thể hiểu với ý nghĩa thông thường, phổ biến, với phạm vi rất
rộng là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức của chủ thể vào đối tượng
nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và các hành vi của con người, nhằm
duy trì tính ổn định và sự phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định.
QLNN là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước
(công quyền) để điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của công dân và mọi tổ
chức xã hội (chính trị- kinh tế- xã hội), giữ gìn trật tự xã hội (thể chế chính trị) và
phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định.
Quản lý nhà nước về thương mại: là một khoa học, có đối tượng nghiên
cứu là các mối quan hệ tương tác giữa các thực thể có liên quan tới hoạt động
thương mại và quản lý hoạt động thương mại của một nước, ngoài ra còn nghiên
cứu tính quy luật của các quan hệ tác động và xu hướng sử dụng các công cụ,
phương pháp quản lý của các cơ quan quyền lực của nhà nước đối với lĩnh vực
thương mại.
Quản lý nhà nước về mặt hàng sữa bột: là hoạt động có tổ chức của nhà
nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách, nhà nước sẽ tác
động đến thị trường sữa bột trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể
sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng để thực hiện tốt các vấn đề về sản xuất và
cung cấp sữa .
2.2 Một số lý thuyết liên quan đến Quản lý Nhà nước đối với mặt hàng sữa
bột
7
2.2.1 . Quản lý Nhà nước về giá
Niêm yết công khai, cấm độc quyền, bán phá giá. Từ ngày 1/7/2002, Pháp lệnh giá
đã được UBTV Quốc hội khoá X thông qua và Chủ tịch nước ký Lệnh công bố
( ngày 8/5), sẽ có hiệu lực thi hành. Pháp lệnh quy định quản lý Nhà nước về giá
và hoạt động về giá của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài sản xuất
kinh doanh tại Việt Nam.
Pháp lệnh gồm 3 nội dung cơ bản: điều hành giá của Nhà nước; hoạt động về giá
của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh; quản lý Nhà nước về giá.
- Nhà nước giữ vai trò bình ổn giá thị trường, định giá, hiệp thương giá; kiểm soát
giá độc quyền. Khi giá thị trường của hàng hoá, dịch vụ quan trọng, thiết yếu có
biến động bất thường, Nhà nước thực hiện các biện pháp bình ổn giá: điều chỉnh
cung cầu hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá XNK, hàng hoá giữa các
vùng, các địa phương; mua vào hoặc bán ra hàng hoá dự trữ; kiểm soát hàng tồn
kho; quy định giá tối đa, tối thiểu, khung giá; kiểm soát các yếu tố hình thành giá.
- Nhà nước áp dụng các biện pháp kiểm soát giá độc quyền, chống bán phá giá.
Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có quyền tự quyết định giá mua, giá bán
hàng hoá, dịch vụ không thuộc danh mục Nhà nước định giá; được quyền khiếu
nại về các quyết định giá của cơ quan Nhà nước làm thiệt hại lợi ích hợp pháp của
mình. Đồng thời các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phải niêm yết giá hàng hoá,
dịch vụ tại cửa hàng, nơi giao dịch mua bán, cung ứng dịch vụ và phải bán đúng
giá niêm yết. Nhà nước nghiêm cấm việc liên kết độc quyền về giá; bán phá giá
hàng hoá, dịch vụ; bịa đặt, loan tin không có căn cứ về việc tăng hoặc hạ giá; định
giá sai; tăng hoặc giảm giá giả tạo bằng cách thay đổi số lượng, chất lượng, địa
điểm giao nhận hàng; lợi dụng thiên tai, địch họa để đầu cơ tăng giá, ép giá.
- Pháp lệnh quy định, cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước về giá có quyền:
đình chỉ việc thực hiện giá bán hàng, dịch vụ do tổ chức, cá nhân liên kết độc
quyền về giá quy định. Trường hợp cần điều chỉnh giá thì tổ chức, cá nhân phải
lập phương án giá trình cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước về giá xem xét,
8
quyết định. Các hành vi không bị coi là bán phá giá là: hạ giá bán hàng tươi sống,
hàng tồn kho do chất lượng giảm, lạc hậu về hình thức, hàng theo mùa vụ; hàng để
khuyến mại theo quy định của pháp luật.
2.2.2. Quản lý nhà nước về chất lượng
Trước hết phải thấy rằng quản lý nhà nước về chất lượng là hoạt động tổng hợp
mang tính kỹ thuật, kinh tế và xã hội, có mục tiêu, biến đổi theo thời gian và thông
qua các cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức.
Mục tiêu quản lý chất lượng của Nhà nước Việt Nam là “để đảm bảo nâng cao
chất lượng hàng hóa, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng, sử dụng hợp lý
nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tiến bộ
khoa học và công nghệ, tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc hợp tác kỹ thuật, kinh tế và thương mại quốc tế” (Pháp lệnh Chất
lượng Hàng hóa 1999).
Để thực hiện những mục tiêu nói trên, các biện pháp sau đây được tiến hành: Ban
hành và áp dụng tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa; Kiểm tra và chứng nhận chất
lượng hàng hóa, áp dụng và chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng; công nhận
năng lực kỹ thuật và quản lý của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chất lượng.
thanh tra và xử lý các vi phạm về chất lượng. Những biện pháp quản lý của nhà
nước về chất lượng này được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
về chất lượng. Điều đó phù hợp với xu hướng chung của quản lý nhà nước bằng
pháp luật.
2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về QLNN đối với mặt hàng
sữa bột
Trong quá trình nghiên cứu và tìm tài liệu phục vụ đề tài chúng tôi thấy
chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp về quản lý nhà nước đối với thị
trường mặt hàng sữa bột mà chỉ có những công trình liên quan đến đề tài của
chúng tôi đó là quản lý nhà nước về thương mại đối với hàng hóa nói chung. Cụ
thể là:
9
Đề tài thứ nhất: Hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về thương mại hàng hóa
trên địa bàn Hà Nội đến năm 2020
Là đề tài thuộc danh mục luận án tiến sỹ kinh tế. Gồm có 3 chương lớn:
Chương 1: Lý luận nội dung quản lý nhà nước về thương mại hàng hoá trên
địa bàn tỉnh, thành phố
Chương 2: Thực hiện nội dung quản lý nhà nước về thương mại hàng hoá
trên địa bàn HN giai đoạn 2001 – 2007
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện nội dung quản lý NN về
thương mại hàng hoá trên địa bàn HN đến năm 2020
Đề tài thứ hai: Tác giả là các chuyên gia kinh tế.
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Quản lý Nhà nước về Thương
mại.
Bài viết gồm 3 chương :
Chương I : Một số vấn đề lý luận về quản lí Nhà nước đối với lĩnh vực Thương
mại ở nước ta.
Chương II: Thực trạng công tác quản lí Nhà nước về Thương mại .
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về Thương mại ở
nước ta hiện nay.
Nghị quyết đại hội, đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ :
"Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô Nhà
nước, đồng thời xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị kinh doanh, nhằm
phát huy những tác động tích cực to lớn đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc
phục những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường".
Đề tài thứ 3:
Theo luận văn tốt nghiệp: Một số biện pháp chống gian lận thương mại qua giá
trong hoạt động nhập khẩu tại chi cục Hải quan Gia Thụy- Gia Lâm- Hà Nội
10
Về mặt lý luận các công trình trên đã hệ thống lại và nói rõ những lý luận cơ bản
QLNN về thương mại, về thực tiễn các đề tài đó đi sâu tìm hiểu và phân tích thực
trạng tình hình thương mại nói chung, phát hiện những tồn tại, nguyên nhân và đề
xuất những giải pháp thích hợp để giải quyết những vấn đề còn tồn tại. Đó là
những thành công của các nghiên cứu trước.
Sự khác biệt của đề tài:
Bước vào năm 2009 đứng trước thực tiễn khủng hoảng của nền kinh tế thế giới, thị
trường Việt Nam nói chung và thị trường Hà Nội nói riêng trở thành vấn đề mang
tính thời sự hết sức nóng bỏng vì Hà Nội là một trong hai thị trường có khối lượng
tiêu thụ sữa lớn. Xuất phát từ tính cấp thiết ấy chúng em mạnh dạn nghiên cứu
sang vấn đề mới mẻ mang tính thực tiễn đó là tập trung vào vấn đề QLNN về
thương mại đối với mặt hàng sữa bột trên địa bàn Hà Nội. Đó là sự khác biệt về
phạm vi, không gian nghiên cứu.
Trên cơ sở kế thừa những lý luận của công trình đi trước, chúng em đã giải quyết
vấn đề theo một hướng đi mới. Nếu như các đề tài trước tập trung giải quyết
những bài toán nghiên cứu thực trạng sau đó tìm nguyên nhân tồn tại, đề xuất giải
pháp thì đề tài chúng em đưa ra với tiêu đề “Quản lý nhà nước đối với mặt hàng
sữa bột trên địa bàn Hà Nội” là đi tiếp cận các văn bản, thông tư đã ban hành,
xem xét những nhân tố, tác nhân tác động tới vấn đề quản lý cũng như vấn đề thực
thi theo pháp luật của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kinh doanh mặt hàng sữa
bột trên địa bàn Hà Nội. Từ đó đưa ra các kết luận đánh giá quá trình, điểm còn
tồn tại, thiếu sót, có những kiến nghị phù hợp phục vụ cho việc phát triển vấn đề
QLNN về thương mại đối với thị trường mặt hàng sữa bột. Đó chính là sự khác
biệt trong cách tiếp cận đề tài của chúng tôi, đề tài của chúng em không trùng với
bất cứ đề tài nào của các nghiên cứu đi trước.
2.4 Phân định nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước đối với mặt hàng sữa
bột
2.4.1. Nội dung Quản lý nhà nước về mặt hàng sữa bột
11
2.4.1.1. Quản lý nhà nước đối với việc nhập khẩu sữa bột
Hàng năm, căn cứ nhu cầu sữa bột của nền kinh tế quốc dân và nguồn sữa sản
xuất trong nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương xác
định nhu cầu định hướng về sữa nhập khẩu của năm tiếp theo. Trên cơ sở nhu cầu
định hướng về sữa nhập khẩu, Bộ Công Thương giao hạn mức nhập khẩu tối thiểu
cả năm theo cơ cấu chủng loại cho từng thương nhân có Giấy phép kinh doanh
xuất khẩu, nhập khẩu sữa để làm thủ tục nhập khẩu với cơ quan hải quan.
Căn cứ nhu cầu thị trường, thương nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu
sữa quyết định khối lượng sữa nhập khẩu các loại để tiêu thụ tại thị trường trong
nước nhưng không thấp hơn mức tối thiểu được giao.
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra, giám
sát việc nhập khẩu sữa của các thương nhân, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của nền kinh
tế và tiêu dùng của xã hội. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương điều chỉnh
mức nhập khẩu tối thiểu đã giao cho các thương nhân.
2.4.1.2. Quy định về thành lập quỹ bình ổn giá
Thương nhân đầu mối có nghĩa vụ trích lập Quỹ Bình ổn giá để tham gia bình ổn
giá theo quy định. Quỹ Bình ổn giá được lập để tại doanh nghiệp, được hạch toán
riêng và chỉ sử dụng vào mục đích bình ổn giá.
Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn giá.
Theo đó, Bộ Tài chính tổ chức ngay các đoàn kiểm tra, thanh tra việc chấp hành
pháp luật về thuế và pháp luật về giá đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản
xuất kinh doanh các mặt hàng thuộc danh mục bình ổn giá, đăng ký giá, kê khai
giá, niêm yết giá tại các thành phố sau: xi măng, sắt thép, khí hoá lỏng, xăng dầu,
phân bón, đường, sữa, thức ăn chăn nuôi, thuốc chữa bệnh cho người, cước vận tải
bằng ôtô và hàng hoá dịch vụ thiết yếu khác thuộc danh mục bình ổn giá, đăng ký
giá. Bộ Tài chính và cơ quan chức năng liên quan sẽ xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm pháp luật về thuế, pháp luật về giá. Đối với DN vi phạm, cơ quan này sẽ
thực hiện công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng các hành vi
12
vi phạm để nhân dân biết và giám sát kiểm tra, tránh bị lợi dụng. Riêng đối với
mặt hàng thuốc phòng, chữa bệnh cho người, Bộ Tài chính đã có công văn gửi Bộ
Y tế đề nghị tăng cường giám sát giá thuốc kê khai theo chức năng, nhiệm vụ được
giao. Như vậy, sữa cũng là một mặt hàng đang được bộ tài chính cân nhắc việc
bình ổn giá.
2.4.1.3. Giá bán sữa bột
Nguyên tắc quản lý giá bán sữa bột
a) Giá bán sữa bột được thực hiện theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước.
b) Thương nhân đầu mối được quyền quyết định giá bán buôn; việc điều chỉnh giá
bán lẻ sữa bột được thực hiện theo nguyên tắc, trình tự và có trách nhiệm tham gia
bình ổn giá theo quy định của pháp luật hiện hành và được bù đắp lại những chi
phí hợp lý khi tham gia bình ổn giá.
c) Thời gian giữa hai (02) lần điều chỉnh giá liên tiếp tối thiểu là mười (10) ngày
dương lịch đối với trường hợp tăng giá, tối đa là mười (10) ngày dương lịch đối
với trường hợp giảm giá; khi điều chỉnh giá bán lẻ sữa bột, thương nhân đầu mối
đồng thời phải gửi quyết định giá và phương án giá của mình đến các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền;
d) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi nhận được quyết định giá và phương án
giá của thương nhân đầu mối, có trách nhiệm giám sát để bảo đảm việc điều chỉnh
giá của thương nhân đầu mối thực hiện đúng quy định của pháp luật;
đ) Căn cứ tình hình kinh tế - xã hội, giá sữa thế giới trong từng thời kỳ, Thủ tướng
Chính phủ quyết định điều chỉnh các quy định nêu trên.
2.4.1.4. Quản lý số lượng và chất lượng sữa bột
1. Chỉ được phép lưu thông sữa bột trên thị trường Việt Nam có chất lượng phù hợp
với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và Tiêu chuẩn công bố áp dụng.
13
2. Thương nhân kinh doanh sữa bột phải thực hiện các quy định hiện hành về quản
lý chất lượng sũa trong quá trình nhập khẩu, sản xuất, pha chế, tồn trữ, vận chuyển
và bán cho người tiêu dùng; chịu trách nhiệm về chất lượng sữa trong hệ thống
phân phối thuộc mình quản lý.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chỉ đạo việc kiểm định các thiết bị
đo lường theo quy định hiện hành của pháp luật về đo lường và việc bảo đảm chất
lượng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và Tiêu chuẩn công bố áp dụng; phối hợp
với các Bộ, ngành liên quan rà soát các tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về sữa để điều chỉnh, bổ sung các chỉ tiêu chất lượng, phương pháp thử
phù hợp với tiêu chuẩn của các nước trong khu vực và quốc tế.
2.4.1.5.Thanh tra ,kiểm tra xử lý các hoạt động kinh doanh sữa trên Hà Nội
Thương nhân kinh doanh sữa phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh sữa.
Các Bộ ,cơ quan ngang bộ ,ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng ,nhiệm vụ
của mình có trách nhiệm chỉ đạo ,tổ chức thanh tra ,kiểm tra việc chấp hành các
quy định theo các nghị định của thủ tướng chính phủ về kinh doanh mặt hàng sữa
và các văn bản khác ;ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm ,bảo đảm
bình ổn thị trường sữa ,đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
2.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với sữa bột
a. Nhân tố môi trường vĩ mô
-Các nhân tố được nói đến ở nhóm này là những nhóm nhân tố môi trường liên
quan đến tình hình kinh tế, xã hội, chính trị - luật pháp, nhân khẩu học . . có sự tác
động trực tiếp hay gián tiếp tạo nên sự biến động thị trường đối với mặt hàng sữa
bột. Tình hình kinh tế trong nước và thế giới ảnh hưởng trực tiếp tới việc quản lý
của nhà nước tới từng mặt hàng, không chỉ riêng gì mặt hàng sữa. Ngoài ra, sự
phát triển của xã hội theo từng giai đoạn cũng kéo theo hệ thống quản lý thay đổi
theo từng giai đoạn, ở mỗi một giai đoạn khác nhau thì nhà nước có những chính
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét