Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Phân tích tài chính ở công ty kinh doanh và chế biến than Hà Nội

1. Những nhân tố phát sinh từ bên trong
1.1. Nguồn nhân lực
Đây là một nhân tố không thể thiếu. Vì nó tác động trực tiếp tới công tác này. Muốn hoạt
động phân tích tài chính trở thành công cụ hữu hiệu cho công tác quản trị doanh nghiệp, thì cần có
một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực trình độ, đảm nhiệm công việc này.
Bởi họ mới chính là lực lợng chủ yếu để quyết định công việc sẽ diễn ra nh thế nào.
Họ có thể làm giảm bớt các các phức tạp trong công tác quản trị nh thời gian, tiền của
Ngợc lại nếu ta không chú trọng nhiều tới nhân tố này nó sẽ thành một hàng rào cản trở lớn
cho công tác quản trị.
1.2. Trang thiết bị kỹ thuật công nghệ
Ngày nay khoa học phát triển ngày càng mạnh và đợc ứng dụng vào mọi mặt của đời sống
xã hội, và nó góp phần không nhỏ vào những thành tựu kinh tế.
ứng dụng khoa học và kỹ thuật vào công tác phân tích tài chính là rất cần thiết bởi:
Những trang thiết bị kỹ thuật sẽ giúp cho công tác quản lí cũng nh thực hiện điều hành trở
nên đơn giản, nhẹ nhàng, khoa học, có độ chính xác cao, tốn ít nhân lực
Việc trang bị các thiết bị khoa học vào công tác phân tích tài chính sẽ giúp cho các cán bộ
có thể cập nhật đợc những thông tin tài chính một cách nhanh chóng và chính xác, giảm bớt các
khối lợng công việc bằng lao động thủ công, rút ngắn thời gian, làm tăng năng suất lao
động Chính vì vậy nó trở thành nhân tố ảnh hởng lớn tới công tác phân tích tài chính ở doanh
nghiệp.
1.3. Bộ máy quản trị:
Đây là một nhân tố có ảnh hởng rất quan trọng tới công tác phân tích tài chính: Nó có thể
thúc đẩy sự tồn tại, phát triển của công tác này và giúp phân tích tài chính trở thành một công cụ
đắc lực của quản trị tài chính vì :
Ngời lãnh đạo có thấu hiểu đợc tầm quan trọng, và hiểu rõ đợc công tác trên sẽ có sự đầu t
đúng cho công tác này.
2. Những nhân tố phát sinh từ bên ngoài
Môi trờng kinh doanh là một trong những nhân tố tác động rất nhiều tới công tác phân tích tài
chính. Phân tích tài chính mục đích là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính cho các đối tác có
liên quan. Nếu môi trờng kinh doanh ổn định sẽ trở thành một nhân tố thuận lợi cho việc thực hiện
công tác này. Ngợc lại sự bất ổn định của môi trờng kinh doanh sẽ tạo sự khó khăn cho công tác kinh
doanh và gián tiếp ảnh hởng tới phân tích tài chính. Mặt khác công tác phân tích tài chính còn là sự dự
báo trớc về khả năng tài chính cũng nh từ phân tích tài chính có thể thấy rõ đợc điểm mạnh, hay yếu
của doanh nghiệp trớc những sự biến động của môi trờng kinh doanh. Kinh doanh luôn phải gắn với
môi trờng của mình, việc thu thập các thông tin từ môi trờng sẽ trở nên rất hữu ích cho công tác trên.
5
III. Phơng pháp đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp
1. Các tài liệu đánh giá tình hình tài chính
1.1. Bảng cân đối tài chính bảng cân đối tài chính:
Là báo cáo tài chính đợc lập vào một thời điểm nhất định theo cách phân loại vốn và nguồn
hình thành vốn đợc cấu tạo dới dạng bảng cân đối số d các tài khoản kế toán.
- Kết cấu của bảng cân đối tài chính
+ Bên trái là tài sản có: Tức giá trị toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc
quyền quản lí và sử dụng của doanh nghiệp có thể tập hợp thành:
.Vốn cố định (tài sản cố định- TSCĐ).
.Vốn lu động (tài sản lu động- TSLĐ)
.Vốn thanh toán( tài sản thanh toán- TSTT)
+ Bên phải là tài sản nợ: Là giá trị các nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh
nghiệp có thể tập hợp thành:
. Nguồn vốn chủ sở hữu( Vốn của doanh nghiệp có)
. Nguồn vốn vay: Vay dài hạn, Vay ngắn hạn.
Giá trị bên có, nợ của bảng cân đối bàng nhau đúng theo số liệu đầu kỳ và cuối kỳ
1.2. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh:
Là bản báo cáo thu, chi trong một thời kỳ tơng ứng nó thể hiện tập hợp các khoản thu chi và
kết quả kinh doanh, Đây là một thông tin mà các nhà bỏ vốn rất quan tâm vì nó phản ánh sinh động
toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuỳ theo hệ thống kế toán mà cấu tạo
bảng báo cáo kinh doanh có thể khác nhau, nhng nhìn chung là báo cáo về sự chênh lệch giữa
doanh thu tiêu thụ và các khoản chi phí, các khoản thuế và các khoản lợi nhuận dòng và phần tái
tích luỹ gồm:
- Doanh thu tiêu thụ
- Giá vốn hàng bán
- Chi phí chung
- Lợi nhuận khác
- Lợi nhuận trớc thuế
- Lợi nhuận sau thuế
- Các quỹ phân phối (cả quỹ dự phòng)
- Lợi nhuận tái tích luỹ.
Ngoài ra để có thể đánh giá so sánh tình hình tài chính của doanh nghiệp; Ngời ta có thể
dụng các chỉ tiêu tài chính của ngành nh chỉ tiêu trung bình chỉ tiêu cao nhất mà doanh nghiệp
trong nghành đang dẫn đầu.
2. Các phơng pháp phân tích
2.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính qua bảng cân đối tài chính
Khi đánh giá ta xem xét phần tài sản và phần nguồn vốn.
6
Dựa vào các chỉ tiêu phản ánh trong phần tài sản của bảng cân đối kế toán nhà quản trị khái
quát quy mô vốn và cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất với trình độ sử dụng vốn của doanh
nghiệp.
Phần nguồn vốn:
+ Xét về mặt kinh tế: Các chỉ tiêu thuộc phần nguồn vốn trong bảng cân đối tài chính thể
hiện các nguồn hình thành tài sản mà doanh nghiệp hiện có.
+ Xét về mặt pháp lí: Đây là các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lí về mặt vật chất của
doanh nghiệp đối với đối tợng cấp vốn cho doanh nghiệp (Nhà nớc, cổ đông, nhà đầu t, ngân
hàng )
Căn cứ vào các chỉ tiêu phản ánh trong nguồn vốn của bảng cân đối nhà quản trị có thể biết
đợc kết quả của từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn hiện có. Nó cũng phản ánh thực trạng tình
hình tài chính của doanh nghiệp thông qua tỉ lệ cơ cấu vốn giữa vốn chủ và công nợ.
Bảng cân đối tài chính là tài liệu quan trọng đối với việc nhiên cứu đánh giá khái quát tình
hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và triển vọng kinh tế, tài
chính của doanh nghiệp.
2.2. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp qua báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh
Việc đánh giá này cho ta biết khái quát kết quả thu chi trong doanh nghiệp cho ta biết đợc
hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ kế toán nhất định.
2.3. Phân tích theo chiều ngang và phân tích theo chiều dọc
Phân tích theo chiều ngang và chiều dọc là hai công cụ trong đánh giá khái quát tình hình
tài chính qua bảng cân đối tài chính, và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
- Phân tích theo chiều ngang (chênh lệch đầu năm, cuối năm, đầu kỳ, cuối kỳ): Nhằm phản
ánh sự biến động tăng giảm của từng chỉ tiêu trong bảng cân đối tài chính cũng nh báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh giữa các kỳ so sánh.
Phân tích theo chiều ngang cho ta biết sự biến động của các khoản mục nhng cha cung cấp
cho ta mối quan hệ giữa các khoản mục trong tổng tài sản hay tổng nguồn vốn hoặc cha cho ta biết
mối quan hệ giữa các chỉ tiêu với doanh thu thuần. Để thấy đợc mối quan hệ này cần tiến hành
phân tích theo chiều dọc.
Phân tích theo chiều dọc: Là tất cả các khoản mục hoặc chỉ tiêu đều đợc so sánh với tổng tài
sản hoặc doanh thu thuần để xác định tỉ lệ kết cấu của từng khoản mục, chỉ tiêu trong tổng số. Qua
đó có thể đánh giá đợc sự biến động so với quy mô chung, giữa cuối kỳ so với đầu kỳ. Cách phân
tích này không những áp dụng trong trờng hợp so sánh giữa hai kỳ, mà còn áp dụng trong trờng
hợp so sánh giữa nhiều kỳ khác nhau, hoặc giữa các doanh nghiệp khác nhau.
3. Phân tích các chỉ số tài chính
Việc đánh giá hoạt độngkinh doanh của một doanh nghiệp ngời ta sử dụng các chỉ số tài chính, các
chỉ số này đợc thiết kế để chỉ mối quan hệ giữa các bộ phận, khoản mục cấu thành trong bảng cân đối
tài chính và báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
7
Việc tính các chỉ tiêu này cho ta biết đợc tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm nhất
định.
So sánh các chỉ số này với các doanh nghiệp khác trong nghành thờng cho chúng ta những con số
thống kê đầy ý nghĩa, giúp các nhà quản trị đánh giá đợc điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp
mình.
3.1. Các chỉ số về khả năng thanh toán
Các chỉ số về khả năng thanh toán phản ánh các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền nhanh
chóng ở mức giá hợp lí và vị trí linh hoạt của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đáp úng
đợc trách nhiệm hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và nợ dài hạn đến hạn trả trong vòng một năm.
Các chỉ số về khả năng thanh toán chỉ ra mối quan hệ giữa tiền mặt và các tài sản lu động
khác của doanh nghiệp với các khoản nợ ngắn hạn.
a. Tỷ xuất thanh toán hiện hành
Nó chỉ ra phạm vi các khoản nợ ngắn hạn đợc đảm bảo chi trả bằng các tài sản lu động.
căn cứ để đánh giá là chỉ tiêu trung bình của ngành, mỗi một ngành đều có một chỉ số thanh
toán hiện hành nhng nhìn trung chỉ số này bằng một thì doanh nghiệp có đủ khả năng thanh
toán, hay tình hình tài chính bình thờng- khả quan.

b. Tỷ xuất thanh toán nhanh
Tỷ xuất thanh toán nhanh là tỷ số giữa các khoản mục của tài có hiện hành có thể
chuyển nhanh thành tiền mặt với tài sản nợ hiện hành. Các khoản mụcnày là tiền mặt, đầu t
ngắn hạn, các khoản phải thu và phiếu nợ phải thu. Trên thực tế chỉ số này > 0.5 thì tình
hình thanh toán là tơng đối khả quan, nếu chỉ số này < 0.5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó
khăn trong trong việc thanh toán. Tuy nhiên tỷ xuất này quá cao lại phản ánh tình hình
không tốt vì vốn bằng tiền nhiều vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử vốn.
c. Tỷ xuất thanh toán của vốn lu động
Chỉ số này phản ánh khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản lu động. Thực tế cho
thấy nếu chỉ số này > 0.5 hoặc < 0.1 đều không tốt thì sẽ gây ứ đọng vốn hoặc thiếu tiền để
thanh toán.
8
Tài sản lu động
Tỷ xuất thanh toán hiện hành=
Tổng nợ ngắn hạn
Tài sản lu động - Hàng tồn kho
Tỷ xuất thanh toán nhanh=
Tổng nợ ngắn hạn
Tổng số vốn bằng tiền
Tỷ xuất thanh toán của VLĐ =
Tổng tài sản lu động
3.2. Các chỉ số về năng lực hoạt động
Các chỉ số về năng lực hoạt động đánh gia chu kỳ kinh doanh và hiệu quả sử dụng các
nguồn lực của doanh nghiệp.
a. Các chỉ số về hàng dự trữ:
- Số vòng luân chuyển hàng dự trữ: nhu cầu luân chuyển vốn của doanh nghiệp cũng
bị ảnh hởng bởi độ dài thời gian hàng hoá ở trong kho. Điều này có thể tính đợc bằng cách
tính số vòng luân chuyển hàng dự trữ là số lần mà hàng hoá tồn trong kho trung bình đợc
bán trong kỳ kế toán.
Chỉ số cao thờng đợc đánh giá là tốt. Nếu đứng góc độ vốn luân chuyển doanh nghiệp
cao, thờng đòi hỏi vốn đầu t thấp hơn cho hàng tồn kho so với doanh nghiệp khác có cùng
mức doanh thu nhng có chỉ số thấp. Mặt khác số vòng luân chuyển hàng tồn kho rất cao thì
việc duy trì mức tồn kho thấp có thể khiến cho mức tồn kho đó không đủ đáp ứng các hợp
đồng ngay của kỳ sau và điều này có thể không tốt đến hoạt độngkinh doanh của doanh
nghiệp.
- Số ngày dự trữ hàng hoá ( số ngày của một vòng quay kho hàng):
b. Các chỉ số về tài sản lu động (TSLĐ) tài sản cố định (TSCĐ )
- Sức sản xuất của vốn lu động: Chỉ số này cho ta biết một đồng vốn lu động làm ra đ-
ợc mấy đồng doanh thu.
- Sức sinh lợi của vốn lu động: Chỉ số này cho ta biết một đồng vốn lu động làm ra đợc
mấy đồng lợi nhuận thuần hay lãi.
9
Giá vốn hàng bán
Số vòng luân chuyển hàng dự trữ=
Giá vốn bình quân hàng tồn kho
365 ngày
Số ngày dự trữ hàng hoá =
Hàng tồn kho bình quân
Tổng doanh thu thuần
Sức sản xuất của vốn lu động=
Vốn lu động bình quân
Lợi nhuận thuần( lãi gộp)
Sức sinh của vốn lu động =
Vốn lu động bình quân
- Số vòng quay của vốn lu động: Cho ta biết tài sản lu động quay đợc mấy vòng trong
kỳ. Nếu vòng quay tăng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngợc lại.
- Sức sản xuất của vốn cố định: Chỉ số này cho biết một đồng nguyên giá bình quân tài
sản cố định đem lại mấy đồng doanh thu thuần.
- Sức sinh lợi của tài sản cố định: Cho biết một đồng tà sản cố định làm ra mấy đồng
lợi nhuận.
- Suất hao phí của tài sản cố định: Chỉ số này cho biết để đạt đợc một đồng doanh thu
cần bao nhiêu đồng nguyên giá tài sản cố định.
- Tỷ suất đầu t: Là tỉ số giữa tài sản cố định trên tổng tài sản, tỷ số này luôn nhỏ hơn
một.

- Tỷ suất tự tài trợ: Cho biết vốn tự có của doanh nghiệp dùng để trang bị cho tài sản
cố định là bao nhiêu. Doanh nghiệp có tỷ xuất này lớn hơn một là doanh nghiệp có tài chính
mạnh.
10
Tổng doanh thu thuần
Số vòng quay của vốn lu động =
Vốn lu động bình quân
Tổng doanh thu thuần
Sức sản xuất của TSCĐ =
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Lợi nhuận thuần
Sức sinh lợi của TSCĐ =
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Nguyên giá TSCĐ
Suất hao phí của TSCĐ =
Doanh thu thuần
Tài sản cố định
Tỷ xuất đầu t =
Tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu
tỷ suất tài trợ =
Tài sản cố định
- Hệ số quay vòng của tài sản: Chỉ số này cho biết hiệu quả của tài sản đầu t. Thể hiện
qua doanh thu thuần của tài sản đầu t.
c. Các chỉ số về các khoản thu
- Số vòng quay các khoản phải thu: Đánh giá tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu
của doanh nghiệp thành tiền mặt. Nếu các khoản phải thu đợc thu hồi nhanh thì hệ số quay
vòng các khoản phải thu sẽ cao. Nói chung thì điều này tốt vì nó có nghĩa là công ty không
phải đầu t nhiều vốn vào các khoản phải thu. Tuy nhiên hệ số quay vòng các khoản phải thu
quá cao, điều này có nghĩa là phơng thức tín dụng quá hạn chế thì sẽ ảnh hởng không tích
cực đến khối long tiêu thụ.
- Kỳ thu tiền (Số ngày của doanh thu cha thu): Phản ánh số ngày thu tiền của một
vòng quay các khoản phải thu.
d. Các chỉ số về nguyên vật liệu
- Tỷ suất luân chuyển nguyên liệu(NL): Chỉ số này cho ta biết số lần nguyên vật liệu
dự trữ bình quân đợc sử dụng trong kỳ.
- Số vòng luân chuyển nguyên liệu đa vào quá trình sản xuất:
e. Các chỉ tiêu về các khoản phải trả: Phản ánh các khoản phải trả trong kỳ
11
Doanh thu thuần
Số vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
365 ngày
Kỳ thu tiền =
Số vòng quay các khoản thu
Chi phí cho NL đã sử dụng
Tỷ suất luân chuyển NL =
Lợng NL dự trữ bình quân
Chi phí cho hàng hoá đã sản xuất
Số vòng luân chuyển NL =
NL dự trữ bình quân
Các khoản phải trả
Phải trả cho mua hàng =
Hàng mua
Hàng mua
Hàng phải mua trung bình trên ngày =
Số ngày
Các khoản phải trả
Khoản phải trả cho hàng mua theo ngày =
Lợng hàng mua TB trên ngày
Tổng số nợ phải trả
Tỷ lệ các khoản phải trả trên các khoản phải thu =
Tổng các khoản phải thu
Nếu chỉ số này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn càng nhiều và ngợc
lại.
f. Các chỉ số về marketing
Ngời ta da ra một lạot các chỉ số để xem xét
Chỉ số trên phản ánh sự đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp với khách hàng
Cho biết các chi phí cần thiết cho việc luân chuyển
Phản ánh chi phí cần đáp ứng cho bán hàng
Cho biết hiệu xuất của bán hàng
12
Doanh thu bán hàng
=
Số lợng nhu cầu khách hàng
Chi phí hành trình
=
Số ngày hành trình
Chi phí bán hàng
=
Doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng
=
Số phiếu bán hàng
Số nhu cầu
=
Số ngày bán hàng
3.3. Các chỉ số về khả năng sinh lợi
Các chỉ số về khả năng sinh lợi phản ánh khả năng tìm kiếm thu nhập cho doanh nghiệp nó
luôn đợc các nhà quản trị, các nhà đầu t, chủ nợ quan tâm theo dõi. Chúng là cơ sở để đánh giá
kết quả hoạt động kinh doanh, cũng nh để so sánh hiệu quả sử dụng vốn và mức lãi của các doanh
nghiệp cùng loại. Thu nhập là thớc đo quan trọng nhất và duy nhất trong việc đánh giá khả năng
sinh lợi.
a. Các chỉ số về số d lợi nhuận bán hàng
Phản ánh mỗi đồng doanh thu đem lại bao nhiêu lợi nhuận
Cho biết một đồng doanh thu mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp.
Cho biết doanh nghiệp đã duy trì chi phí hoặc đã cải thiện đợc giá bán so với chi phí .
Cho biết một đồng doanh thu làm ra bao nhiêu thu nhập
b. Các chỉ số về hoàn vốn đầu t
- Hoàn vốn tổng tài sản: Cho biết khả năng thực hiện chức năng của ban quản lí, điều
hành doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp để làm ra lợi nhuận
- Hoàn vốn cổ phần: Phản ánh sự thất bại hay thành công trong kinh doanh của doanh
nghiệp trong việc tối đa hoá việc hoàn vốn cho các cổ đông trên cơ sở vốn đầu t của họ tại
doanh nghiệp
13
Lãi gộp
Lợi nhuận tế biên gộp =
Doanh thu tiêu thụ thuần
Lãi từ hoạt động
Lợi tế biên hoạt động =
Doanh thu tiêu thụ thuần
Lãi ròng
Lợi nhuận tế biên ròng =
Doanh thu tiêu thụ thuần
Lãi ròng
Hoàn vốn tổng tài sản =
Bình quân tổng tài sản
- Hoàn vốn đầu t chung(ROI): Đây là thớc đo tổng quát khả năng thực hiện chức năng
tài chính của doanh nghiệp
Hoàn vốn đầu t ROI có thể đạt đợc bằng cách:
+ Cải thiện năng lực hoạy động( tăng số d hoạt động)
+ Cải thiện hiệu quả hoạt động (tăng vòng quay của vốn)
+ Kết hợp năng lực và hiệu quả
3.4. Các chỉ số về mức tăng trởng
a. Doanh số tiêu thụ: là số phần trăm tăng trởng hằng năm của doanh thu.
b. Thu nhập: là số phần trăm tăng trởng hàng năm về lợi nhuận ròng.
c. Lợi nhuận cổ phần: Là số phần trăm tăng trởng hàng năm về lợi nhuận cổ phần.
d. Tiền lãi cổ phần: Số phần răm tăng trởng hàng năm của tiền lãi cổ phần
Những doanh nghiệp làm ăn tốt chỉ số này sẽ cao
Cho biết cổ tức chia cho mỗi cổ phiếu là bao nhiêu
3.5. Các chỉ số về thu nhập cổ phiếu
a. Nếu doanh nghiệp chỉ phát hành cổ phiếu thờng thì ta có
14
Lãi ròng
Hoàn vốn cổ phần =
Bình quân vốn cổ phần
Lợi nhuận dòng Lợi nhuận dòng DT tiêu thụ thuần
ROI = = x
Toàn bộ vốn DT tiêu thụ thuần Tổng số vốn
Giá cổ phần trên thị trờng
e. Chỉ số giá trên thị trờng =
Lợi nhuận cổ phần
Cổ tức cổ phiếu
f. Chỉ số cổ tức =
Số cổ phiếu thờng
Lãi ròng
Thu nhập mỗi cổ phiếu thờng =
Bình quân số cổ phiếu
thờng đang lu hành

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét