nền kinh tế thế giới thành một nền kinh tế hoà nhập ngày càng đậm nét với một thị tr-
ờng buôn bán toàn cầu sôi động. Đối với các quốc gia công nghiệp phát triển, hội
nhâp kinh tế quốc tế là con đờng ngắn nhất để họ nhanh chóng xác lập vị thế quốc tế,
là phơng thức phát triển giúp họ đẩy mạnh chi phối và dẫn dắt các xu thế kinh tế toàn
cầu. Còn đối với các quốc gia đang phát triển hội nhập kinh tế quốc tế không những là
chiến lợc quan trọng thúc đẩy nhịp độ phát triển kinh tế xã hội mà còn là sự lựa chọn
không thể tránh khỏi để đạt đợc sự tăng trởng kinh tế bền vững. Hơn nữa ngày nay
đông lực của hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ nhằm khai thác lợi thế so sánh mà
còn là tiến bộ khoa học kỹ thuật và mở rộng cơ chế thị trờng. Điều này càng làm cho
các quan hệ đầu t, thơng mại, chuyển giao công nghệ, quản lý đan chéo hoà nhập
vào nhau hơn trong một chỉnh thể thống nhất mà trong đó các nền kinh tế quốc gia chỉ
là một bộ phận hợp thành của kinh tế toàn cầu
1.1 Tiến bộ khoa học kỹ thuật thúc đẩy toàn cầu hoá.
Với sự phát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ trong thời gian vừa qua đã
làm cho hội nhập kinh tế bớc vào một giai đoạn mới -Giai đoạn toàn cầu hoá và khu
vực hoá. Những tiến bộ to lớn về công nghệ thông tin cũng nh trong lĩnh vực kỹ thuật
và công nghệ khác đã cho phép tổ chức sản xuất và tiến hành buôn bán trên quy mô
toàn cầu. Các máy Fax,cáp sợi thuỷ tinh,máy vi tính tạo điều kiện thuận lợi cho các
công ty đa quốc gia tổ chức điều khiển từ xa các chi nhánh bố trí chằng chịt của họ
một cách nhanh chóng, kịp thời. Các phơng tiện vận chuyển khổng lồ rất hiện đại có
tốc độ cao giúp cho việc tổ chức sản xuất, chế tạo, lắp ráp, và buôn bán các sản phẩm
làm ra ở nhiều địa bàn khác nhau, có khi xa nhau hàng nghìn, hàng vạn km, nhằm
khai thác lợi thế so sánh ở mỗi nơi. Điều này đã làm cho biên giới quốc gia đặc biệt là
về kinh tế ngày càng mất tác dụng. Với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cộng với sức
mạnh khổng lồ của các công ty xuyên quốc gia đã và đang làm thay đổi bộ mặt thế
giới từng phút từng giờ
1.2 Thúc đẩy tự do hoá thơng mại thế giới
Từ những năm 1990, xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá của nền kinh tế thế
giới đã tạo điều kiện cho thơng mại thế giới phát triển một cách nhanh chóng. Việc tự
do hoá mậu dịch với biện pháp bãi bỏ hàng rào thuế quan đã giúp cho nền thơng mại
thế giới phát triển một cách ngoạn mục một sự phát triển trong cạnh tranh gay gắt,
thị trờng của các quốc gia trên thế giới đợc khai thông và mở rộng trên mọi lĩnh vực.
Nếu nh trớc kia thơng mại thế giới chỉ tập trung vào những mặt hàng truyền thống thì
nay nó còn lan ra cả dịch vụ, bất động sản Theo nhận xét của báo Tấm gơng
(Đức)tốc độ tăng trởng thơng mại thế giới từ năm 1991 cho tới năm 1998 nhanh hơn
5
gấp đôi tốc độ tăng trởng GDP của thế giới ví dụ :Tốc độ tăng trởng GDP của thế giới
năm 1994 là 3,9% trong khi đó tốc độ tăng trởng thơng mại thế giới là 9,5%. Tơng tự
năm 1995:3,6%và 8%;năm 1996:4,1%và 7% ;năm 1997:4,1% và 9,4%. Mặc dù trong
năm 1998,bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á nhng tốc độ
tăng trởng thơng mại thế giới vẫn đạt 3,7%.
Tổ chức thơng mại thế giới - WTO và các tổ chức mậu dịch tự do khu vực nh
liên hiệp châu âu -EU, diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái bình dơng - APEC, khu
vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ-NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-AFTA đã
đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hoá thơng mại thế giới. Trong đó tổ
chức thơng mại thế giới WTO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
xu hớng toàn cầu hoá thơng mại. Tại hội nghị cấp bộ trởng lần thứ nhất của WTO họp
ở xingapore với 128 nớc tham gia đã thông qua đợc hiệp định công nghệ thông tin
ITA bao gồm việc xoá bỏ hàng rào thuế quan đối với các mặt hàng bán dẫn, các sản
phẩm thông tin Viễn thông và các thiết bị máy tính, phần mềm và các thiết bị khoa
học. Tiếp nối các hiệp định ban đầu của vòng đàm phán uruguay, vòng đàm phán
Singapore càng thúc đẩy hơn nữa trong quá trình tự do hoá thơng mại toàn cầu
Nh vậy toàn cầu hoá với việc ra đời của EU, NAFTA, AFTA và đặc biệt là
WTO đã đánh dấu thời đại của hàng rào thuế quan cao, của cách thức đóng cửa khác
nhau ở các thị trờng, của một số đặc quyền ít ỏi trong mậu dịch quốc tế dành cho các
nớc phát triển đã chấm dứt. Buôn bán quốc tế đã chuyển sang một thời đại mới, thời
đại của tự do hoá thơng mại thế giới
1.3 FDI và vai trò của các công ty đa quốc gia
Vai trò ngày càng tăng của đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI là một nhân tố rất
quan trọng để thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá. Tổng giá trị FDI toàn thế giới năm 1994
là 209 tỷ USD; năm 1995 là 260 tỷ USD; năm 1996 là 320 tỷ USD; năm 1998 là 450
tỷ USD. Với việc đầu t ra nớc ngoài đã góp phần làm tăng nhanh quá trình quốc tế hoá
đời sống kinh tế Thế giới, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn thơng mại quốc tế. Nhng ng-
ợc lại chính xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế quốc tế càng thúc đẩy các công
ty đa quốc gia đầu t ra nớc ngoài. Các nớc G7 là các nớc đứng đầu về đầu t trực tiếp ra
nớc ngoài. FDI vào châu á chiếm khoảng 1/3 FDI toàn thế giới
Các công ty đa quốc gia MNCs là lực lợng chủ chốt đầu t ra nớc ngoài. Hàng
năm các MNCs đầu t ra khoảng 300-350 tỷ USD. Hoạt động của MNCs đã có vai trò
to lớn trong phát triển thơng mại quốc tế. Theo số liệu ớc tính, những năm gần đây
giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của các MNCs đạt khoảng 6,5 đến 7 nghìn tỷ
6
USD trong đó xuất khẩu nội bộ của MNCs đạt khoảng 2000 tỷ USD. Đến hết năm
1998 trên thế giới có khoảng 39000MNCs và có 300000 chi nhánh (công ty con) ở n-
ớc ngoài với tổng số vốn đầu t trực tiếp ở nớc ngoài FDI lên tới 3000 tỷ USD
Bên cạnh những đóng góp lớn về vốn cho phát triển sản xuất và thơng mại
quốc tế, các MNCs có vai trò to lớn trong chuyển giao công nghệ. Việc chuyển giao
công nghệ là điều kiện khách quan giúp cho các MNCs chiếm lĩnh thị trờng và nâng
cao lợi nhuận, đồng thời có khả năng chi phối các đối tác trong hoạt động kinh doanh.
Các MNCs có thể chuyển giao kỹ thuật công nghệ hiện đại trong nội bộ công ty mà
chuyển giao kỹ thuật công nghệ ở cấp thấp hơn cho các nớc khác, công ty khác
1.4 Liên kết kinh tế quốc tế mở rộng trên các cấp độ khác nhau
Hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian vừa qua theo nhiều chiều hớng và tầng
nấc khác nhau: Song phơng, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Cùng với
việc ra đời diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái Bình Dơng-APEC, khu vực mậu dịch
tự do Bắc Mỹ NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN/AFTA đã chứng minh hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng củng cố và phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu .
Trong năm 1996, hội nghị cấp cao á -âu(ASEM) lần thứ nhất họp tại Băng
cốc (Thái lan) với sự tham dự của vị nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo chính phủ 10 n-
ớc châu á và các nớc trong EU nhằm xây dựng thể chế liên kết kinh tế liên lục địa á-
âu. Sự kiện này đã khép kín cạnh thứ ba của tam giác liên kết kinh tế liên lục địa trên
thế giới, mà hai cạnh trớc đã có từ trớc là diễn đàn kinh tế châu á Thái bình dơng
APEC gắn liền với các nớc châu á và châu mỹ ở ven hai bờ Thái bình dơng, và khu
vực mậu dịch xuyên Đại Tây Dong TAFTA giữa Hoa Kỳ và Bắc Mỹ với EU và Tây
Âu
Trong những năm qua, các tổ chức liên kết tiểu khu vực và khu vực tiếp tục
phát triển. ở châu Phi, cộng đồng kinh tế các nớc Tây phi (ECOWAS) nằm trong khu
vực nghèo nhất thế giới gồm 16 nớc thành viên trong đó có Nigeria, Ghana, Mali,
Senegan đã xúc tiến từng bớc việc thiết lập liên minh hải quan vào năm 2000 và liên
minh kinh tế toàn diện vào năm 2005. Cũng tại lục địa đen, 12 nớc thành viên Cộng
đồng phát triển phía nam Châu phi -SADC đã ký nghị định th vào năm 1996 thành lập
khu vực mậu dịch tự do với 130 triệu dân và kêu gọi cắt giảm thuế quan trong thời hạn
tối đa 8 năm
Các nớc ở Nam Mỹ đang tiến tới thiết lập khu vực buôn bán tự do châu Mỹ
khổng lồ FTAA vào năm 2005, tạo ra một khối buôn bán tự do lớn thứ t trên thế giới
7
với 250 triệu ngời tiêu dùng và có GĐP là 800 tỷ USD. Các hàng rào thuế quan giữa
các nớc này dự định sẽ huỷ bỏ vào năm 2004
Tại châu á, trong những năm qua xu hớng hợp tác tiểu khu vực phát triển
mạnh.Việc Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga ký kết các
hiệp định thành lập khu vực phát triển kinh tế vùng sông Turmen ở Đông Bắc A hồi
tháng 12/1995 đã mang đến sinh khí mới cho hợp tác kinh tế ở vùng này. Tại hội nghị
quốc tế ở Bắc Kinh với chủ đề đẩy mạnh phát triển và hợp tác khu vực giữa các nớc
đông Bắc á trong thế kỷ 21, các học giả nhất trí cho rằng khi nền kinh tế khu vực
Thái Bình Dơng phát triển mạnh, vùng Đông Bắc á nên tăng cờng hợp tác khu vực
nhằm tạo một thị trờng có tiềm lực lớn. Tại khu vực Nam á, 7 nớc trong tổ chức
SAARC -Hiệp hội các quốc gia Nam á vì sự hợp tác khu vực trong đó có ấn Độ,
Pakistan đã đồng ý huỷ bỏ hàng rào buôn bán càng nhanh càng tốt nhằm tăng cờng
buôn bán và hợp tác khu vực trong các liên doanh, đầu t và kỹ thuật với hy vọng thành
lập đợc một khu vực buôn bán giống nh ASEAN
Việc tổ chức ASEAN chính thức kết nạp Lào và Myanmar trong thời gian vừa
qua đã mở ra triển vọng to lớn hình thành Tổ chức hiệp hội các nớc Đông Nam á
ASEAN và khu vực mậu dịch tự do thơng mại AFTA bao gồm toàn thể 10 nớc ở trong
khu vực. Hiện tại ASEAN với 9 nớc thành viên là khu vực kinh tế lớn thứ t trên thế
giới, có diện tích 3,3 triệu km2 với 400 triêu dân, có GDP hơn 550 tỷ USD, xuất khẩu
hơn 300tỷ USD/năm. AFTA đang đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch tự do buôn bán
vào năm 2003 hoặc sớm hơn, thúc đẩy hình thành khu vực đầu t tự do ASEAN và sau
đó từng bớc tiến tới nhất thể hoá ASEAN về kinh tế trong vùng vài ba chục năm tới
Tóm lại, toàn cầu hoá đang tạo ra những tác động tích cực và có những ảnh h-
ởng tiêu cực, những cơ hội to lớn và những thách thức nghiêm trọng, nó kích thích sự
phát triển đối với những ai biết khai thác lợi thế của xu hớng lịch sử mới này và khiến
những ai chậm chân, đứng bên lề có thể bị tụt hậu ngày càng xa
2. Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua
Hội nhập kinh tế quốc tế vừa là một xu hớng vừa là yêu cầu của các quốc gia
trên thế giới. Đối với Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tìm kiếm những nguồn
lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để hỗ trợ cho sự nghiệp cải cách và công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Để thực hiện mục tiêu đó, trong những năm vừa qua Việt
Nam đã thực hiện chính sách đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ để thực hiện
từng bớc hội nhập. Việt Nam tích cực mở rộng các mối quan hệ thơng mại, hợp tác
kinh tế với nhiều nớc và tổ chức quốc tế theo nhiều tầng nấc khác nhau: Song phơng,
8
tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Năm 1995, Việt Nam chính thức trở
thành thành viên của ASEAN và đang nỗ lực tham gia thực hiện các chơng trình hợp
tác kinh tế ASEAN, đặc biệt là chơng trình khu vực mậu dịch tự do AFTA. Cùng với
việc tham gia AFTA/ASEAN Việt Nam cũng đã tham gia diễn đàn hợp tác á - Âu
(ASEM) ngay từ khi hình thành vào tháng 3/1997 với t cách là thành viên sáng lập.
Đặc biệt, năm 1997 đánh dấu một sự kiện quan trọng và có ý nghĩa lớn lao đối với
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Sau một thời gian nỗ lực vận động
và chuẩn bị, Việt Nam đã đợc các nhà lãnh đạo APEC tuyên bố sẽ kết nạp làm thành
viên vào năm 1998. Đối với tổ chức thơng mại thế giới (WTO) Việt Nam cũng đã đệ
đơn xin gia nhập và trong hai năm 1997, 1998 Việt Nam đã chuẩn bị cho các vòng
đàm phán gia nhập WTO với tổ công tác và các nớc quan tâm.
Trong thời gian qua, tiếp theo việc bình thờng hoá quan hệ ngoại giao giữa
Việt nam và Mỹ, hai nớc đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để ký kết các hiệp định
kinh tế song phơng về các vấn đề về nợ , bản quyền, từng bớc bình thờng hoá quan hệ
kinh tế thơng mại. Song song với những việc trên, trong những năm qua Việt Nam
tích cực hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế nh WB, IMF nhằm tận dụng một
cách có hiệu quả sự hợp tác của các tổ chức đó phục vụ tiến trình phát triển kinh tế và
hội nhập quốc tế của mình. Nhng có một điều là tất cả sự hợp tác, quan hệ trên đều
phải lấy các nguyên tác của WTO làm tiêu chuẩn.
3. Những cơ hội và thách thức với Việt Nam trong quá trình mở cửa và
hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối với Việt Nam là một nớc đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, tham
gia hội nhập với xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với nhiều nớc trên thế giới.Vì vậy,
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta, mặt
khác cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức lớn lao.
3.1. Những lợi ích của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá
đất nớc. Việt Nam mở cửa và hội nhập vào kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho Việt
Nam thay đổi cơ cấu kinh tế thích hợp hớng công nghiệp hoá và xuất khẩu, tạo cơ hội
để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thơng mại và dịch vụ.
+ Việt Nam sẽ không bị phân biệt đối xử trong thơng mại quốc tế và mở rộng
đợc nhiều thị trờng xuất khẩu ra bên ngoài do việc đợc hởng quy chế tối huệ quốc
(MFN) và u đãi quốc gia (NT) của các nớc thành viên, đặc biệt là các mặt hàng xuất
khẩu mà ta có lợi thế so sánh nh gạo, cà phê, hải sản, may mặc, dày dép
9
Ví dụ: Việc Việt Nam tham gia vào APEC sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hợp
tác về thơng mại với các nớc khu vực châu á - Thái Bình dơng. Thơng mại giữa Việt
Nam và các nớc trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng chiếm hơn 80% tổng lợng th-
ơng mại quốc tế của Việt Nam. Tham gia vào APEC sẽ giúp Việt Nam khai thác đợc
lợi thế, tận dụng những u đãi của APEC dành cho các nớc đang phát triển, tránh rơi
vào thế bị cô lập trong xu thế hợp tác và cạnh tranh khu vực.
+ Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế Việt Nam phải tiến hành cải cách
thể chế, chính sách, luật pháp cho phù hợp với yêu cầu của các tổ chức này. Điều này
công với các lợi thế so sánh mà lâu nay Việt Nam có nh lao động, vị trí địa lý sẽ tạo
điều kiện cho Việt Nam có cơ hội thu hút đợc vốn đầu t nớc ngoài nhiều hơn.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực để các công ty trong nớc đổi mới
công nghệ, cải tiến phơng pháp quản lý, tăng cờng hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất l-
ợng sản phẩm để cạnh tranh và tồn tại trong điều kiện kinh tế mở. Ngoài ra, hội nhập
kinh tế quốc tế còn tạo điều kiện cho các công ty Việt Nam bớc vào thị trờng thế giới để
mở rộng sản xuất kinh doanh, cạnh tranh trực tiếp với các công ty nớc ngoài.
+ Trong quá trình hội nhập vào các tổ chức kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ sử
dụng đợc cơ chế giải quyết tranh chấp đa phơng để bảo vệ đợc lợi ích và giảm bớt đợc
sức ép của các nớc lớn trong thơng mại. Đồng thời nâng cao đợc vai trò của Việt Nam
trong các cuộc đàm phán thơng lợng thơng mại trong tơng lai.
3.2. Những nghĩa vụ và thách thức của Việt Nam.
Cùng với những lợi ích mang lại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thì
bên cạnh đó quá trình hội nhập buộc Việt Nam phải thực hiện những nghĩa vụ của
mình theo những tiêu chuẩn quốc tế và tất yếu Việt Nam sẽ gặp phải những khó khăn,
thách thức.
3.2.1. Nghĩa vụ của Việt Nam.
+ Việt Nam sẽ phải mở cửa thị trờng hàng hóa và dịch vụ thông qua việc
giảm thuế và các biện pháp phi thuế quan trong khi luật lệ, kinh nghiệm và khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, nhất là lĩnh vực dịch vụ bao
gồm: Ngân hàng, Bảo hiểm, Vận tải, Bu chính - Viễn thông, Xây dựng và T vấn.
+ Việt Nam sẽ phải có sự bảo vệ hợp lý đối với quyền tác giả của các sản phẩm
trí tuệ nh: Mẫu mã, bằng sáng chế, nhãn hiệu thơng mại, chơng trình máy tính và thu
thanh thông qua các quy định pháp lý phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
+ Việt Nam cần phải sửa đổi các qui định về đầu t nớc ngoài không phù hợp,
phải thực hiện các nghĩa vụ đối với quốc gia và giảm hoặc loại trừ những hạn chế liên
10
quan đến đầu t nớc ngoài nh yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, phần trăm hàng xuất khẩu
trong các dự án đầu t.
+ Việt Nam phải tiếp tục cải cách hệ thống thơng mại và kinh tế của mình phù
hợp với các qui định của các tổ chức kinh tế quốc tế. Các khu vực cần phải cải cách
hơn nữa gồm hệ thống giá, chế độ xuất nhập khẩu, hệ thống thuế và tài chính, các
hoạt động thơng mại của khu vực doanh nghiệp Nhà nớc và bảo hộ quyền tác giả. Các
nghĩa vụ khác Việt Nam sẽ phải thực hiện bao gồm: Minh bạch hoá chế độ thơng mại,
áp dụng thống nhất chính sách thơng mại trên phạm vi cả nớc; và có thời gian biểu
cho quá trình cải cách kinh tế.
3.2.2. Những thách thức:
+ Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều yếu kém. Việc mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế có nhiều nội dung liên quan đến tự do hoá thơng mại và đầu t, và điều này
trong thời gian đầu sẽ gây cho Việt Nam những khó khăn nhất định. Cùng với những
khía cạnh tích cực của tự do cạnh tranh, thì mặt tiêu cực cũng sẽ ảnh hởng rất lớn nếu
nh cải cách trong nớc không đợc thực hiện kịp thời và đúng lợng.
+ Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp vả lại
đang trong quá trình chuyển đổi. Vì vậy việc hoạch định một chính sách kinh tế thơng
mại sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tạo đợc những điều kiện hợp lý để tăng
cờng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vẫn là một điều nan giải khó có thể giải
quyết đợc trong thời gian ngắn.
+ Một điều tất yếu là trong quá trình hội nhập Việt Nam sẽ phải giảm thuế xuất
nhập khẩu. Việc giảm thuế sẽ ảnh hởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách vốn thu đã
không đủ chi.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế là một lĩnh vực hoàn toàn mới lạ đối với Việt Nam.
Trong khi đó đội ngũ cán bộ của Việt Nam còn khá yếu kém cả về kiến thức chung,
cũng nh kiến thức chuyên ngành có liên quan đến vấn đề hội nhập.
+ Một thực tế cho chấy, hiện nay hầu hết các ngành kinh tế Việt Nam từ sản
xuất đến dịch vụ cha chuẩn bị hay cha xây dựng một chiến lợc thống nhất về hội nhập
để tăng cờng sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, biểu tợng Việt Nam trên thơng
trờng quốc tế.
+ Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam á có phần nào tác động tới
nền kinh tế Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam ít nhiều gì cũng sẽ gặp khó khăn.
11
II - Viễn thông Việt Nam trớc xu thế hội nhập.
Trong thời gian tới xu hớng hội nhập nói chung vẫn tiếp tục đợc củng cố và
phát triển cả bề rộng và bề sâu, trong đó đáng chú ý là xu hớng đẩy nhanh việc mở
cửa thị trờng trong nhiều lĩnh vực. Kể cả lĩnh vực đợc coi là phức tạp và có nhiều gay
cấn là lĩnh vực thơng mại dịch vụ mà trong đó dịch vụ Viễn thông đợc đặt lên hàng
đầu.
1. Các xu hớng phát triển Viễn thông trên thế giới.
Trong 2 thập kỷ qua đã diễn ra những sự thay đổi mạnh mẽ trong Viễn thông,
sự thay đổi công nghệ một cách nhanh chóng và đa vào nhiều ứng dụng công nghệ
mới. Thị trờng Viễn thông tăng trởng rất nhanh, theo dự báo số thuê bao điện thoại cố
định vào năm 2005 sẽ gấp đôi năm 1994 (trên 1,2 tỷ), số thuê bao điện thoại di động
từ 80 triệu năm 1994 tăng đến 400 triệu, số thuê bao Internet từ 65 triệu năm 1997 sẽ
lên đến 570 triệu năm 2000. Tại hội nghị phát triển Viễn thông thế giới do ITU tổ
chức tại Malta từ 23/3 - 1/4/1998, sau khi đánh giá môi trờng Viễn thông hiện nay đã
nêu bật lên các xu hớng phát triển Viễn thông là:
1.1. Xu hớng toàn cầu hoá, tự do hoá, mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn
thông ở mức quốc gia, khu vực và quốc tế.
Việc toàn cầu hoá về kinh tế đã thúc đẩy nhanh quá trình tự do hoá thơng mại
toàn cầu, làm cho giao lu kinh tế mậu dịch toàn cầu ngày càng sôi động. Vấn đề thơng
mại hoá dịch vụ đợc đặt ra trong tất cả các tổ chức thơng mại toàn cầu và khu vực nh
WTO, APEC, ASEAN trong đó có dịch vụ Viễn thông. Các tổ chức này đều nhằm
mục đích là đến năm 2020 sẽ tiến tới việc t do hoá hoàn toàn thơng mại dịch vụ trong
khu vực và trên thế giới. Hiện nay trong hiệp định chung về thơng mại dịch vụ
(Ganeral Agreement on trade in servies - GATS) của WTO, các dịch vụ Viễn thông đ-
ợc chia làm hai loại - đó là các dịch vụ cơ bản và các dịch vụ giá trị gia tăng trong đó
các dịch vụ cơ bản đóng vai trò quan trọng hơn xét từ góc độ kinh tế, kỹ thuật cũng
nh chủ quyền an ninh quốc gia. Nói chung trong thời gian tới việc tự do hoá, mở cửa
thị trờng Viễn thông ở các quốc gia, các tổ chức khu vực đều dựa trên nguyên tắc của
WTO về dịch vụ Viễn thông trong hiệp định chung về thơng mại dịch vụ.
12
Phân loại dịch vụ Viễn thông trong WTO/ GATS
I. Các dịch vụ Viễn thông cơ bản:
1. Các dịch vụ thoại.
2. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói.
3. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh.
4. Các dịch vụ TELEX.
5. Các dịch vụ Telegraph.
6. Các dịch vụ Facsimile.
7. Các dịch vụ cho thuê kênh riêng.
8. Các dịch vụ nhắn tin.
9. Các dịch vụ di động tế bào số/analogue.
10. Các dịch vụ thông tin vệ tinh.
11. Các dịch vụ thông tin các nhân (PCS)
12. Các dịch vụ dữ liệu di động.
13. Các dịch vụ khác.
II. Các dịch vụ giá trị gia tăng.
1. Dịch vụ th điện tử (E mail)
2. Dịch vụ th thoại.
3. Dịch vụ khôi phục thông tin và cơ sở dữ liệu trực tuyến (on line)
4. Dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).
5. Dịch vụ Facsimile gia tăng giá trị/cải tiến tính năng (gồm cả dịch vụ lu trữ
và tự động chuyển, la trữ và khôi phục).
6. Dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức.
7. Dịch vụ xử lý thông tin và / hoặc số liệu trực tuyến (kể cả dịch vụ xử lý các
giao dịch kinh doanh).
8. Các dịch vụ khác.
Đối với các dịch vụ giá trị gia tăng (VAS) là những dịch vụ Viễn thông đầu
tiên đợc đa ra đàm phán và cam kết trong GATT 93 (tiền thân của WTO). Kết thúc
vòng đàm phát GATT93, đã có 68 nớc trên thế giới có cam kết với cấc dịch vụ Viễn
13
thông VAS . Sở dĩ các nớc bàn và cam kết mở cửa các dịch vụ VAS trớc vì đây là
những dịch vụ dễ triển khai về kỹ thuật và ít ảnh hởng đến quyền lợi kinh tế cũng nh
an ninh quốc gia của các nớc.
Tuy nhiên, hoạt động có ý nghĩa nhất và có ảnh hởng sâu rộng nhất về thơng
mại dịch vụ Viễn thông trong WTO chỉ bắt đầu khi có vòng đàm phán về mở cửa thị
trờng các dịch vụ Viễn thông cơ bản (Group on basis telecom -GBT). Đây là lĩnh vực
dịch vụ Viễn thông quan trọng mà bất cứ quốc gia nào cũng muốn bảo hội vì lý do an
ninh, chủ quyền quốc gia và lợi nhuận. Ngày 15/2/1997, 69 quốc gia thành viên WTO
đã ký nghị định th thứ 4 của Hiệp định chung về thơng mại dịch vụ liên quan đến dịch
vụ Viễn thông cơ bản, có hiệu lực từ 5/2/1998. Cho tới nay con số các nớc tham gia
ký kết hiệp định về Viễn thông cơ bản đã tăng lên 72 nớc, có thể nói thế giới Viễn
thông đã thay đổi một cách căn bản nhớ kết quả của hiệp định này. 72 nớc đã đa ra
cam kết trong hiệp định chiếm tới 93% giá trị thị trờng Viễn thông thế giới. Trong
hiệp định này, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, tiến trình phát triển Viễn thông
của từng nớc, các quốc gia đều đa ra các cam kết về lộ trình hội nhập và mở cửa của
thị trờng dịch vụ Viễn thông từ nay đến năm 2020.
Đối với nhóm các nớc phát triển nh EU, Bắc Mỹ, Nhật Bản tự do hoá và mở
cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông bắt đầu từ năm 1998. Đây là những nớc chiếm tới
75% thị trờng dịch vụ Viễn thông trên toàn thế giới do vậy quá trình tự do hoá và mở
cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông sẽ ảnh hởng rất lớn tới sự phát triển dịch vụ Viễn
thông của các nớc còn lại.
Các nớc công nghiệp mới nh Singapore, Hàn Quốc mặc dù Viễn thông của
các nớc này không phát triển bằng các nớc công nghiệp phát triển nhng các nớc này
cũng đa ra cam kết sẽ tự do hoa và mở cửa thị trờng hoàn toàn trong một vài năm tới.
Còn đối với các nớc đang và chậm phát triển, mặc dù biết rằng tự do hoá và mở cửa
thị trờng dịch vụ Viễn thông sẽ đem đến nhiều bất lợi nhng trớc xu thế toàn cầu hoá
tất cả các lĩnh vực kinh tế đồng thời trớc sức ép của các nớc phát triển, các nớc này
cũng đã cam kết sẽ tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông từ nay đến năm
2020.
Hiện tại giá trị doanh thu từ Viễn thông quốc tế chỉ chiếm khoảng trên 10%
trong tổng số 670 tỷ USD của thị trờng Viễn thông toàn cầu. Tuy nhiên, với kết quả
đạt đợc của GBT trong WTO, với xu thế toàn cầu hoá ngày càng tăng, sự thay đổi
nhanh chóng của công nghệ và xu thế cạnh tranh ngày càng tăng, tỷ lệ trên có thể tăng
lên 15-20% vào đầu thế kỷ tới.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét